Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Dân sự của tác giả Nguyễn Phước Trung (Khoa Luật – Đại học Huế, khóa học 2010 – 2014, người hướng dẫn khoa học: Th.S Đào Mai Hường) tiếp cận đề tài phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ góc độ khoa học pháp lý gắn liền với thực tiễn cơ sở. Bối cảnh nghiên cứu được tác giả đặt ra dựa trên thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn nạn mang tính toàn cầu, xâm phạm trực tiếp đến quyền con người và quyền bình đẳng giới. Tại Việt Nam, số liệu thống kê được công bố ngày 26/6/2008 bởi Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) trên phạm vi khảo sát 93.000 hộ gia đình cho thấy 21,2% cặp vợ chồng từng trải qua ít nhất một hình thức bạo lực gia đình (trung bình cứ 5 cặp vợ chồng thì có 1 cặp xuất hiện bạo lực). Đáng chú ý, phụ nữ có nguy cơ bị chồng lạm dụng cao gấp 3 lần so với nguy cơ bị người ngoài bạo hành.
Về bối cảnh thực tiễn địa phương, huyện Nông Sơn là một huyện miền núi phía Tây tỉnh Quảng Nam với điều kiện kinh tế – xã hội đặc thù: tỷ lệ hộ nghèo cao, có 4/7 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, địa hình chia cắt phức tạp, trình độ dân trí của người dân còn nhiều hạn chế và các hủ tục, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại dai dẳng. Mặc dù Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2008), song ở địa bàn miền núi như huyện Nông Sơn, việc triển khai các chế tài pháp lý còn gặp nhiều khó khăn và chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đánh giá toàn diện vấn đề này.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 4 mục tiêu:
- Nâng cao nhận thức sâu sắc hơn về các quy định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Đánh giá thực trạng công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại huyện Nông Sơn.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại địa bàn huyện Nông Sơn.
Để hoàn thành các mục đích trên, đề tài thực hiện 5 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm sáng rõ khái niệm và đặc điểm của bạo lực gia đình đối với phụ nữ dưới lăng kính pháp lý và xã hội học.
- Phân tích chi tiết đặc điểm cấu thành của 4 hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ (thể xác, tinh thần, tình dục, kinh tế).
- Hệ thống hóa các hình thức, nguyên tắc và phương pháp đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế.
- Chỉ rõ những hậu quả toàn diện của bạo lực gia đình đối với thể chất, tâm lý nạn nhân nữ, đối với sự phát triển của trẻ em và trật tự an toàn xã hội.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể xuất phát từ thực tiễn để nâng cao hiệu lực phòng ngừa và xử lý vi phạm tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn huyện Nông Sơn nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam trong mối liên hệ với các quy định pháp luật quốc gia.
- Về nội dung và thời gian: Tập trung vào các vấn đề lý luận pháp lý về bạo lực gia đình và thực tiễn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn từ khi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 có hiệu lực đến thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 03/2014).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa học thuật và pháp lý:
- Khái niệm gia đình: Được tiếp cận dưới hai góc độ: xã hội học (gia đình là thiết chế xã hội đặc thù, tế bào của xã hội kết nối bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng) và pháp lý (khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
- Khái niệm bạo lực và bạo lực gia đình: Tác giả phân tích khái niệm bạo lực từ quan điểm ngôn ngữ học ("sức mạnh dùng để cưỡng bức, lấn áp hoặc lật đổ"), lý luận chính trị - xã hội học và định nghĩa pháp lý tại Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 ("hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại với các thành viên khác trong gia đình").
- Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ: Vận dụng Tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ ngày 20/12/1993, xác định đây là hành vi bạo lực trên cơ sở giới gây ra hoặc có khả năng gây tổn hại về thân thể, tình dục, tâm lý, hoặc tước đoạt tự do tùy tiện trong đời sống riêng tư cũng như công cộng.
- Văn bản pháp luật nền tảng: Hiến pháp năm 1992, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật Hình sự năm 1999 (đặc biệt là Điều 130 về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ), Bộ luật Dân sự (năm 1995 và năm 2005), Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 08/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, và Nghị định số 110/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Về cam kết quốc tế, tác giả viện dẫn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW mà Việt Nam tham gia năm 1981), Kế hoạch hành động Cairo 1994 và Tuyên bố Bắc Kinh 1995.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm nhìn nhận bạo lực gia đình trong mối quan hệ với các điều kiện kinh tế, xã hội và quan hệ quyền lực gia đình qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp pháp lý: Làm rõ nội dung các quy phạm pháp luật, thẩm quyền, thủ tục và chế tài.
- Phương pháp so sánh luật học: Nghiên cứu, đối chiếu kinh nghiệm lập pháp và mô hình can thiệp của 5 quốc gia (Nhật Bản, Đông Timor, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan) để rút ra bài học cho Việt Nam.
- Phương pháp thống kê, điều tra khảo sát thực tế và phân tích xã hội học pháp luật: Thu thập, đối chiếu dữ liệu khảo sát từ các cơ quan bảo vệ pháp luật, Hội Phụ nữ và chính quyền địa phương tại huyện Nông Sơn.
Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; các báo cáo thống kê liên bộ và tổ chức quốc tế (UNICEF, Hội nghị ASEAN về nhạy cảm giới năm 2006); các dữ liệu điều tra, báo cáo hành chính của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Quy định của pháp luật Việt Nam về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm
Chương 1 chiếm dung lượng trọng tâm về mặt lý luận pháp lý, bao gồm 4 mảng nội dung chính:
Thứ nhất, hệ thống hóa 4 hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ:
Tác giả phân tích các dấu hiệu nhận diện, hành vi biểu hiện và hậu quả của từng nhóm hành vi theo quy định pháp luật:
| Hình thức bạo lực |
Hành vi biểu hiện cụ thể theo văn bản pháp luật |
Hậu quả và đặc tính nhận diện |
| Bạo lực thể xác |
Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đấm đá, xô ngã, sử dụng công cụ/vũ khí xâm phạm tính mạng, sức khỏe; ngăn cấm tiếp cận y tế, dinh dưỡng. |
Dễ phát hiện qua dấu vết thực thể; gây chấn thương, tàn tật, sảy thai hoặc tử vong; tỷ lệ ở nông thôn cao hơn thành thị, gắn với trình độ học vấn thấp. |
| Bạo lực tinh thần |
Lăng mạ, chì chiết, chửi bới, cô lập, xua đuổi, nghi ngờ, kiểm soát, hạ thấp nhân phẩm nơi đông người, gây áp lực tâm lý thường xuyên. |
Khó phát hiện trực quan; tạo sang chấn tâm lý kéo dài, trầm cảm, suy nhược thần kinh, có thể đẩy nạn nhân tới hành vi tự sát (dẫn chứng vụ án trên báo VnExpress 23/10/2008). |
| Bạo lực tình dục |
Cưỡng ép quan hệ tình dục trong hôn nhân; sờ mó, cưỡng ép xem nội dung khiêu dâm, đùa cợt thô thiển; dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khống chế quan hệ ngoài ý muốn. |
Tồn tại dưới vỏ bọc "nghĩa vụ làm vợ"; gây tổn hại sức khỏe sinh sản, nguy cơ lây nhiễm bệnh qua đường tình dục, HIV/AIDS; nạn nhân thường mặc cảm, giấu giếm. |
| Bạo lực kinh tế |
Chiếm đoạt tài sản chung/riêng; kiểm soát tuyệt đối tài chính; không đóng góp chi phí sinh hoạt; ép buộc lao động quá sức, độc hại hoặc ép đi ăn xin (theo Nghị định 110/2009/NĐ-CP). |
Tạo sự lệ thuộc hoàn toàn về vật chất; tước bỏ quyền tự chủ kinh tế của người phụ nữ trong gia đình; ít bộc lộ công khai nên khó thu thập chứng cứ. |
Thứ hai, kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn của một số quốc gia châu Á:
- Nhật Bản: Ban hành Luật về phòng ngừa bạo lực hôn nhân và bảo vệ nạn nhân năm 2001 (sửa đổi 2004); thiết lập Tòa án Hôn nhân Gia đình và hệ thống Trung tâm tư vấn và hỗ trợ bạo lực hôn nhân với quy trình bảo vệ tạm thời, tư vấn tâm lý, hỗ trợ y tế và pháp lý chuyên nghiệp.
- Đông Timor: Luật Chống bạo lực gia đình tập trung vào phòng ngừa sớm thông qua đưa giáo dục nhân quyền vào chương trình trường tiểu học, trung học; tập huấn cho cảnh sát, thẩm phán; lập đường dây nóng riêng tại mỗi huyện và vận hành hệ thống Radio khẩn cấp tiếp cận hiện trường nhanh chóng.
- Trung Quốc: Khởi sắc sau Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ tư tại Bắc Kinh (1995); hơn 10 tỉnh, thành phố ban hành nghị định riêng về bạo lực gia đình; Hội Liên hiệp Phụ nữ mở đường dây nóng; phát sóng các tiểu phẩm kịch trên đài truyền hình quốc gia và tập huấn báo chí (Trung Quốc Nhật báo) để xóa bỏ tư tưởng phong kiến.
- Philippines: Ban hành Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em năm 2004; trao quyền cho nạn nhân được tạm nghỉ việc, hưởng trợ giúp miễn phí và xin lệnh bảo vệ; thành lập Hội đồng liên ngành gồm 11 cơ quan (cảnh sát, tư pháp, y tế, phúc lợi xã hội) và Ủy ban liên ngành xử lý khẩn cấp.
- Thái Lan: Triển khai rất thành công mô hình Trung tâm hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình đặt tại bệnh viện (OSCC - One Stop Crisis Center), thành lập từ năm 1998 và nhân rộng ra 109 trung tâm tại các huyện vào năm 2005, tích hợp điều trị thương tích, tư vấn tâm lý và hỗ trợ pháp lý tại cùng một địa điểm.
Thứ ba, các nguyên tắc và trách nhiệm pháp lý trong pháp luật Việt Nam:
Tác giả phân tích 4 nguyên tắc cơ bản của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007: kết hợp đồng bộ biện pháp (lấy phòng ngừa làm chính, chú trọng hòa giải); phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời; bảo vệ, giúp đỡ kịp thời nạn nhân (ưu tiên phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật); phát huy vai trò toàn xã hội. Phân tích quyền và nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực (Điều 4: chấm dứt ngay hành vi, tôn trọng sự can thiệp của cộng đồng, đưa nạn nhân đi cấp cứu, bồi thường thiệt hại). Đồng thời, khóa luận phân định trách nhiệm của cá nhân (Điều 31), gia đình (Điều 32), Mặt trận Tổ quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ (Điều 33, 34) cùng trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và UBND các cấp.
Thứ tư, các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ và chế tài xử lý vi phạm:
- Biện pháp buộc chấm dứt hành vi và cấp cứu nạn nhân: Phân tích nghĩa vụ can thiệp và mức phạt hành chính từ 100.000 đồng đối với người biết mà không báo tin hoặc cản trở cứu giúp theo Điều 20 Nghị định 110/2009/NĐ-CP; đồng thời nêu chính sách đãi ngộ người dũng cảm ngăn chặn bạo lực gia đình (xem xét liệt sĩ, thương binh nếu suy giảm lao động từ 21%, UBND cấp tỉnh hoàn trả thiệt hại tài sản theo Điều 5 Nghị định 08/2009/NĐ-CP).
- Biện pháp cấm tiếp xúc: Phân tích Điều 8 Nghị định 08/2009/NĐ-CP về khoảng cách cách ly dưới 30m và cấm liên lạc qua điện thoại/thư điện tử; thẩm quyền ra quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã hoặc Tòa án; thủ tục áp dụng, điều kiện áp dụng (phải có đơn, có nguy cơ tổn hại sức khỏe/tính mạng, nạn nhân có nơi ở khác) và chế tài tạm giữ hành chính khi vi phạm.
- Các hình thức xử lý vi phạm (Điều 42 Luật 2007): Xử lý kỷ luật cán bộ, công chức (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc theo Luật Cán bộ, công chức 2008); Xử lý hành chính (phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 100.000 đồng, tước chứng chỉ hành nghề, buộc xin lỗi công khai theo Nghị định 110/2009/NĐ-CP); Xử lý hình sự (Điều 130 BLHS 1999); Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng do xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự (Điều 604, 606 Bộ luật Dân sự).
Chương 2: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật tại cơ sở thông qua điều tra, khảo sát:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Nông Sơn: Phân tích vị trí địa lý vùng đồi núi phía Tây tỉnh Quảng Nam, giao thông cách trở; cơ cấu kinh tế thuần nông lâm nghiệp, đời sống nhân dân khó khăn với 4/7 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn; trình độ dân trí không đồng đều, tàn dư tư tưởng phong kiến còn bám rễ sâu trong đời sống cộng đồng.
- Thực trạng bạo lực gia đình và công tác phòng ngừa qua khảo sát: Số liệu khảo sát thực tế tại huyện Nông Sơn ghi nhận hành vi bạo lực thể xác và bạo lực tinh thần chiếm tỷ lệ cao nhất. Đa số các vụ việc bạo lực thể xác xuất phát từ tình trạng lạm dụng rượu bia và gánh nặng kinh tế nghèo đói; bạo lực tinh thần diễn ra thường xuyên dưới dạng chửi bới, sỉ nhục nhưng ít bị tố giác do tâm lý e ngại "xấu chàng hổ ai". Bạo lực tình dục hầu như không được khai báo do định kiến truyền thống coi việc quan hệ tình dục là bổn phận bắt buộc của người vợ. Bạo lực kinh tế thể hiện rõ nét qua việc người chồng tước đoạt quyền định đoạt tài sản và kiểm soát chi tiêu sinh hoạt tối thiểu của phụ nữ.
- Nhận định về công tác thi hành pháp luật tại địa phương: Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã được triển khai nhưng hình thức còn đơn điệu, chủ yếu lồng ghép trong các cuộc họp thôn/bản. Hoạt động hòa giải cơ sở còn mang tính hình thức, thường khuyên nhủ người phụ nữ "cam chịu, nhẫn nhịn" để giữ gìn hòa khí gia đình. Việc áp dụng các chế tài pháp lý mạnh như biện pháp cấm tiếp xúc hầu như chưa triển khai được trên thực tế tại địa bàn huyện do vướng mắc về điều kiện bắt buộc nạn nhân phải tự tìm nơi ở khác.
- Nguyên nhân của các hạn chế:
- Nguyên nhân từ phía nhận thức xã hội: Tàn dư của tư tưởng gia trưởng, bất bình đẳng giới; bản thân phụ nữ miền núi thiếu hiểu biết pháp luật, tâm lý cam chịu, phụ thuộc kinh tế.
- Nguyên nhân từ cơ chế pháp luật: Một số điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn (như cấm tiếp xúc) thiếu tính khả thi ở vùng nông thôn miền núi; mức phạt tiền trong xử phạt hành chính theo Nghị định 110/2009/NĐ-CP (khởi điểm 100.000 đồng) còn thấp, chưa đủ sức răn đe; khi xử phạt tiền người chồng thì nguồn tiền nộp phạt lại lấy từ tài sản chung của gia đình, gián tiếp gây thêm khó khăn cho nạn nhân.
- Nguyên nhân từ tổ chức thực hiện: Lực lượng cán bộ làm công tác gia đình, tư pháp, công an cấp xã còn mỏng, kiêm nhiệm; thiếu kinh phí và cơ sở hạ tầng hỗ trợ (nhà tạm lánh, địa chỉ tin cậy tại cộng đồng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế).
- Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
- Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật: Chuyển đổi phương thức truyền thông phù hợp với đồng bào miền núi, lồng ghép vào quy ước, hương ước thôn bản; đưa nội dung bình đẳng giới vào trường học.
- Nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải nhạy cảm giới cho tổ hòa giải, cán bộ thôn, Hội Phụ nữ; kiên quyết loại bỏ tư tưởng hòa giải ép buộc nạn nhân cam chịu.
- Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật: Kiến nghị sửa đổi quy định về điều kiện áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc theo hướng linh hoạt, quy định trách nhiệm chính quyền bố trí chỗ ở an toàn cho nạn nhân; tăng thẩm quyền xử phạt và mức xử phạt hành chính; tăng cường xử lý hình sự đối với các vụ bạo lực nghiêm trọng, tái diễn.
- Xây dựng và nhân rộng các mô hình hỗ trợ tại chỗ: Học tập mô hình OSCC (Thái Lan) để lồng ghép chức năng tư vấn pháp lý - y tế tại các trạm y tế xã, bệnh viện huyện Nông Sơn; xây dựng mạng lưới "địa chỉ tin cậy" tại thôn bản do Hội Phụ nữ quản lý.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện các số liệu và cơ sở pháp lý: Khóa luận trích xuất và tổng hợp các số liệu thực chứng quan trọng: khảo sát quy mô quốc gia năm 2008 của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch - UNICEF (21,2% cặp vợ chồng bạo lực); thống kê khu vực ASEAN năm 2006 (56% phụ nữ là nạn nhân thương tích/án mạng, 33% bị đe dọa tình dục); quy chuẩn kỹ thuật cách ly 30m trong biện pháp cấm tiếp xúc; khung xử phạt vi phạm hành chính từ 100.000 đồng theo Nghị định 110/2009/NĐ-CP.
- Chỉ ra các điểm nghẽn thực thi pháp luật đặc thù tại địa bàn miền núi: Công trình làm rõ mâu thuẫn giữa quy định pháp luật thực định với điều kiện thực tế của huyện Nông Sơn (huyện có 4/7 xã đặc biệt khó khăn), cụ thể là tính bất khả thi của quy định buộc người phụ nữ phải tự tìm nơi ở khác mới được ban hành quyết định cấm tiếp xúc với người chồng bạo lực.
- Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn: Khóa luận là một trong những công trình chuyên ngành Luật Dân sự nghiên cứu sâu về thực tiễn thi hành pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại một huyện miền núi nghèo mới chia tách của tỉnh Quảng Nam. Khóa luận kết hợp thành công giữa phân tích đối chiếu pháp luật quốc tế với việc giải quyết bài toán chấp hành pháp luật tại vùng đồng bào còn nhiều tập quán lạc hậu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam nên một số số liệu mang tính cục bộ của vùng núi Trung Bộ, chưa bao quát hết sự đa dạng của các vùng miền khác trên cả nước.
- Về mặt thời gian, đề tài phản ánh khung pháp lý và thực trạng thi hành ở giai đoạn đầu áp dụng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 (đến tháng 03/2014), khi các văn bản hướng dẫn như Nghị định 08/2009/NĐ-CP và Nghị định 110/2009/NĐ-CP bộc lộ nhiều điểm bất cập chưa được sửa đổi.
- Việc thu thập dữ liệu về bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế gặp nhiều khó khăn do tâm lý e ngại, khép kín của người dân địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát liên huyện, liên tỉnh tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi lân cận.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo đảm thi hành chế tài cấm tiếp xúc và việc thành lập các quỹ/cơ sở hỗ trợ khẩn cấp cho nạn nhân bạo lực gia đình tại vùng sâu, vùng xa.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Xã hội học pháp luật có thể sử dụng tài liệu làm cơ sở dữ liệu đối chiếu lý luận và thực tiễn.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác thực tiễn: Cán bộ tư pháp - hộ tịch, công an xã, thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện, và đặc biệt là cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội miền núi tương tự Nông Sơn.
- Các nội dung đáng tham khảo nhất:
- Bảng tổng hợp và phân tích 4 hình thức bạo lực gia đình đối chiếu trực tiếp với các điều khoản luật thực định.
- Chương tổng kết kinh nghiệm phòng, chống bạo lực gia đình của 5 quốc gia châu Á (Nhật Bản, Đông Timor, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan) với các mô hình thực tế như OSCC hay hệ thống thông tin khẩn cấp.
- Phân tích những kẽ hở và hạn chế khi áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc và xử phạt vi phạm hành chính ở nông thôn, miền núi.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo số liệu khảo sát quy mô quốc gia năm 2008 được tác giả dẫn chứng, tỷ lệ bạo lực gia đình tại Việt Nam là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra trên 93.000 hộ gia đình do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) công bố ngày 26/6/2008, có tới 21,2% cặp vợ chồng từng trải qua một hình thức bạo lực gia đình (như đánh, mắng, nhục mạ, ép quan hệ tình dục). Tỷ lệ này tương đương cứ 5 cặp vợ chồng thì có 1 cặp xuất hiện hành vi bạo lực.
2. Biện pháp cấm tiếp xúc theo Nghị định số 08/2009/NĐ-CP được tác giả phân tích với quy định khoảng cách tối thiểu là bao nhiêu và do ai quyết định?
Theo Điều 8 Nghị định 08/2009/NĐ-CP, cấm tiếp xúc là việc không cho phép người có hành vi bạo lực đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30 mét (trừ trường hợp có vật ngăn cách bảo đảm an toàn như tường, hàng rào) và cấm sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử để thực hiện hành vi bạo lực. Thẩm quyền áp dụng thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc hoặc Tòa án đang thụ lý/giải quyết vụ án dân sự liên quan.
3. Tác giả chỉ ra bất cập lớn nhất khi áp dụng biện pháp "cấm tiếp xúc" tại thực tế huyện Nông Sơn là gì?
Bất cập lớn nhất là điều kiện luật định buộc nạn nhân và người bạo lực phải có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc (nạn nhân phải tự tìm đến nhà người thân, bạn bè hoặc nơi ở khác). Tại địa bàn miền núi nghèo như huyện Nông Sơn, điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu mạng lưới nhà tạm lánh khiến nạn nhân không có chỗ ở thay thế, dẫn tới việc biện pháp cấm tiếp xúc không thể triển khai trên thực tế.
4. Mô hình hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình của Thái Lan (OSCC) được tác giả phân tích có điểm gì đặc sắc?
Mô hình OSCC (One Stop Crisis Center) của Thái Lan là mô hình trung tâm khủng hoảng một điểm dừng được đặt trực tiếp tại các bệnh viện (bắt đầu từ năm 1998, đến năm 2005 mở rộng ra 109 trung tâm từ trung ương đến cấp huyện). Mô hình này kết hợp đồng thời việc cấp cứu, điều trị y tế với tư vấn tâm lý và trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình ngay tại cơ sở y tế.
5. Tại sao bạo lực kinh tế theo Nghị định số 110/2009/NĐ-CP lại được tác giả đánh giá là hình thức rất khó nhận diện tại huyện Nông Sơn?
Bởi vì bạo lực kinh tế (kiểm soát tài chính, không đóng góp tiền bạc, đập phá tài sản, ép buộc lao động quá sức) thường ít bộc lộ công khai ra bên ngoài mà diễn ra âm thầm trong đời sống nội bộ gia đình. Tại huyện miền núi Nông Sơn, tính phụ thuộc kinh tế của phụ nữ vào chồng rất lớn và nhiều người vẫn quan niệm người chồng có toàn quyền định đoạt tài sản gia đình, khiến hành vi này không bị coi là vi phạm pháp luật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phước Trung là công trình nghiên cứu chuyên ngành Luật Dân sự có bố cục chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa hệ thống lý luận pháp lý, pháp luật so sánh quốc tế và phân tích thực tiễn tại huyện miền núi Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Công trình đã làm rõ đặc trưng của 4 hình thức bạo lực gia đình, đánh giá toàn diện các chế tài ngăn chặn, bảo vệ và xử lý vi phạm theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 cùng các nghị định hướng dẫn thi hành. Khóa luận chỉ ra xác đáng những rào cản xã hội và kẽ hở pháp lý khiến công tác bảo vệ phụ nữ tại vùng cao còn hạn chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ tuyên truyền, hòa giải đến hoàn thiện các quy định pháp luật thực định.