CHƯƠNG 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI NHỮNG VI PHẠM 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm gia đình Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào xã hội. Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa…những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, những mối liên hệ khác: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng và con dâu, cha mẹ vợ và con rễ…Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở khía cạnh như: có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cái vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội.
Mối KLTN liên hệ này có thể dựa Thông trên những tin địa căn cứ pháp lýcó thể dựa trên những căn lý hoặc cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát. Theo đó gia đình được định nghĩa “là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội thu nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con người bởi tính cộng đồng về sinh hoạt trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của thành viên cũng như để thể hiện tính tất yếu của xã hội về phát triển sản xuất con người”. Dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này (Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000). Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà… 5 Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia tách thành nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống, gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ.
Khái niệm bạo lực gia đình Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, lấn áp hoặc lật đổ”[3]. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau, tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với trẻ em… Còn theo chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bạo lực là một giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức khác nhau, kể cả sự tác động bằng vũ trang, đối với giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) khác KLTN nhau nhằm mục đích Thông giành lấy hoặc duytin địa trì sự lý trị về kinh tế, chính trị thống những quyền hay đặc quyền khác nhau” [4]. Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình).
Nói cách khác, đó là việc “ các thành viên trong gia đình vân dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình”. Theo định nghĩa của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993 được các tổ chức cũng như các nhà khoa học trên thế giới chấp nhận rộng rãi. Theo đó, bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở một giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tỳ tiện sự tự do, dù xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư. 6 Như vậy, bạo lực gia đình bao gồm các yếu tố bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần, bạo hành tình dục và cả bạo hành về kinh tế.
Những hành vi bạo lực gia đình gây ra để lại nhiều tổn hại đối với cộng đồng xã hội, đối với con người, đặc biệt đối với phụ nữ- đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của bạo lực gia đình. Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ Tuyên bố của Liên hợp quốc về việc loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ, ngày 20/12/1993, đã định nghĩa: “Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động bạo lực nào dựa trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục hay tâm lý, kể cả những lời đe doạ hay độc đoán tước quyền tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư”. Theo định nghĩa trên, bạo lực gia đình đối với phụ nữ bao gồm: các hành vi bạo lực trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình. KLTN Thông tin địa lý Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình: Quan hệ giới trong gia đình là một trong những quan hệ cơ bản tạo nên sự tồn tại của một gia đình.
Về thực chất nó là mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong gia đình mà trung tâm là mối quan hệ vợ chồng. Trong mối quan hệ về giới, mặc dù thủ phạm của hành vi bạo lực gia đình có thể bao gồm cả phụ nữ và nạn nhân của nó có thể bao gồm cả đàn ông. Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề này cho phép kết luận rằng, bạo lực gia đình về cơ bản là bạo lực chống lại phụ nữ và thủ phạm cơ bản là đàn ông. Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là nam giới, thường là chồng, người tình, hoặc chồng cũ, người tình cũ, hay những người đàn ông quen biết của phụ nữ.
"Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ, trong đó phụ nữ thường là nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ. Bạo lực thường nhằm vào phụ nữ vì họ là phái yếu hoặc ảnh hưởng lớn đến phụ nữ. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm, 7 những tổn hại về thân thể, tình dục và tâm lý (bao gồm cả sự đe doạ, gây đau khổ, cưỡng bức, hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng, nhưng nó không hạn chế chỉ ở những dạng này. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm cả bạo lực do Nhà nước gây ra hoặc bỏ qua "[15].
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngoài những đặc điểm của bạo lực gia đình nói chung còn mang một đặc điểm rất quan trọng để chúng ta nhận biết và phân biệt với bạo lực gia đình nói chung, đó là, nạn nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ chỉ là nữ giới (nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là tất cả đối tượng: nữ giới, nam giới, trẻ em, người già, người tàn tật. Chủ thể thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường là nam giới và thường là người chồng trong hôn nhân, chồng cũ hay bạn tình. Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, giúp KLTN cho người phụ nữ tránh được Thông bạo lực gia tin đình,địa lý các quyền con người và bảo đảm có cuộc sống hạnh phúc. Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc khó khăn và lâu dài.
Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, việc phòng chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Việc PCBLGĐ đối với người phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật về PCBLGĐ đặc biệt, lần đầu tiên, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã ra đời. Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ con người trong đó có người phụ nữ trước bạo hành gia đình.
Chính phủ Việt Nam đã tham gia rất mạnh mẽ phong trào quốc tế trong việc bảo vệ người phụ nữ và đẩy lùi bạo lực gia đình. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) năm 1981 và cam kết với kế hoạch hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại 8 Cai-rô năm 1994 và Cương lĩnh hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995. Với tư cách là quốc gia thành viên của công ước CEDAW, Việt Nam đã có những tiếp cận theo đúng cách tiếp cận của công ước đối với bình đẳng và bình đẳng giới. Điều này được thể hiện trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, từ đạo luật gốc là Hiến pháp đến các đạo luật và các văn bản pháp luật khác đều khẳng định một nguyên tắc bình đẳng nam nữ và không có bất kỳ sự phân biệt nào trên cơ sở giới trên mọi lĩnh vực.
Từ những phân tích trên, phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được hiểu là phòng ngừa những hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ trong lĩnh vực PCBLGĐ mà nạn nhân của bạo hành gia đình là người phụ nữ.