phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cảm quan lịch sử, thời đại, dân tộc, con ngƣời với chiều sâu triết luận, giàu tính nhân văn Chƣơng 2: Bút pháp hiện thực và huyền thoại, triết luận và trữ tình Chƣơng 3: Nét đặc thù của phong cách thể loại trong sự thống nhất của phong cách nghệ thuật 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CẢM QUAN LỊCH SỬ, THỜI ĐẠI, DÂN TỘC, CON NGƢỜI VỚI CHIỀU SÂU TRIẾT LUẬN, GIÀU TÍNH NHÂN VĂN Năm 1949, tại Hội nghị tranh luận Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi chân thành giãi bày: “Thơ là niềm tha thiết nhất, là cái tìm tòi rất khổ” của ông. Gần 40 năm sau, năm 1988, ông lại tâm sự: “Kịch là điều tôi say mê nhất đã từ 30 năm nay” [27,390], nhƣng “ngẫm lại, tôi thấy việc viết kịch của tôi còn gặp nhiều khó khăn hơn cả thơ: mấy vở viết ra đều bị cấm diễn” [9,256]. Nỗi niềm ấy của tác giả chỉ có thể là sau khi đã qua một hành trình thật dài… Vở Con nai đen hoàn thành tháng 6/1961, tháng 11/1961 mới đƣợc in. Năm 1962, Thế Lữ dựng, đƣợc diễn trong Hội diễn kịch nói 1962 và gây nhiều tranh luận.
Vở kịch bị phê bình khá nặng về tƣ tƣởng và không đƣợc diễn nữa. Vở Hoa và Ngần viết năm 1974, đoàn kịch Hà Nội dựng (đạo diễn Dƣơng Ngọc Đức), chỉ xuất hiện duy nhất trong đêm tổng duyệt rồi cũng bị cấm. Nguyễn Trãi ở Đông Quan viết năm 1979. Năm 1980 Nguyễn Đình Nghi đạo diễn, nhà hát kịch Trung ƣơng thực hiện, cũng chỉ rực sáng trên sân khấu vài buổi rồi có lệnh cấm.
Giới sân khấu lúc đó có giai thoại vui: Nếu kịch bản mang tên Nguyễn Đình Thi, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi thì vở diễn nhất định mang tên Nguyễn… Đình Chỉ. Số phận của Rừng trúc còn long đong hơn. Rừng trúc đƣợc viết trƣớc Nguyễn Trãi ở Đông Quan, ngay tháng giáp Tết 1978. Nguyễn Đình Thi đã ôm bản thảo đến đoàn kịch Trung ƣơng đọc cho nghệ sĩ Đào Mộng Long, Phạm Thị Thành và Tuệ Minh, cả ba đều xuýt xoa tấm tắc.
Đoàn kịch định dàn dựng, nhƣng không thành. Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi rất mê Rừng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trúc từ ngày ấy và đem giới thiệu cho một số đoàn kịch (Đoàn kịch Trung ƣơng, Nhà hát Cải lƣơng Trung ƣơng, nghệ sĩ Bạch Tuyết ở thành phố Hồ Chí Minh…), nhƣng tất cả vẫn chỉ nằm trong dự định. Rừng trúc lặng lẽ tồn tại ở dạng bản thảo đánh máy và truyền từ tay ngƣời này sang ngƣời khác… Gần 10 năm sau, bƣớc vào công cuộc đổi mới, Rừng trúc mới đƣợc công bố toàn văn trên tạp chí Tác phẩm mới. Sau đó, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và đoàn kịch Hà Nội đƣa vào kế hoạch dàn dựng, nhƣng rồi phải gác lại bởi những lí do bất khả kháng.
Đến tận cuối năm 1999, sau 21 năm “im lặng”, Rừng trúc mới đƣợc hiện diện thực sự trên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ nhờ công của các đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và Phạm Thị Thành cùng lớp diễn viên nổi tiếng của nhà hát. Vở diễn đoạt Huy chƣơng vàng trong Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp cuối cùng của thế kỷ XX. Các vở khác đều chƣa đƣợc dàn dựng. Có nhiều lý do dẫn đến những “tai nạn lao động” (theo cách nói của Nguyễn Tuân) của các vở kịch Nguyễn Đình Thi, trong đó có nguyên nhân liên quan đến những vấn đề tƣ tƣởng mang tính thời đại, kể cả hậu quả của bệnh quan liêu, giáo điều, hoặc những ấu trĩ của quan điểm xã hội học dung tục một thời.
Đi qua thời gian, Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc… đang đƣợc đánh giá lại, nhƣ là những tác phẩm lớn, mang tầm tƣ tƣởng sâu sắc, và đã trở thành “những sự kiện trong đời sống nƣớc ta mấy chục năm qua” [55,inter]. Thời gian cầm bút, Nguyễn Đình Thi hơn một lần tha thiết “Suy nghĩ và nguyện vọng của tôi là đƣợc viết những điều mình thấy là nên viết” 1. “Tôi muốn tìm một câu trả lời về ý nghĩa kiếp sống của con ngƣời và phải tìm trong cội nguồn cách sống và cách nghĩ của dân tộc” [9,255]. Nhìn lại 1 Chuyển dẫn theo Hà Minh Đức, “Tác phẩm kịch Nguyễn Đình Thi” 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tác phẩm kịch của ông: Con nai đen (1961), Hoa và Ngần (1974), Giấc mơ (1977), Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Người đàn bà hoá đá (1980), Cái bóng trên tường (1981-1982), Tiếng sóng (1985), Hòn Cuội (1983-1986), để cùng đồng cảm với tác giả “tôi cảm thấy kịch cho phép tôi nói đƣợc những vấn đề làm tôi suy nghĩ mấy chục năm”.
Kịch Nguyễn Đình Thi mở ra theo ba dạng khác nhau: 1- Khai thác đề tài lịch sử - 2 vở 2- Dựa vào tích cũ của văn học dân gian - 5 vở 3- Khai thác đề tài cuộc sống đƣơng đại - 3 vở Tất cả đều sáng lên một cảm quan về lịch sử, thời đại, dân tộc, con ngƣời với chiều sâu triết luận giàu tính nhân văn.1 Trong những tác phẩm khai thác đề tài lịch sử Thuộc trong nhóm tác phẩm này có Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Đây là hai trong ba kịch bản đƣợc đánh giá cao nhất, gây đƣợc tiếng vang nhất, cũng „nhạy cảm‟ với dƣ luận nhiều nhất. Rừng trúc gắn liền với sự kiện Trần Thái Tông (Trần Cảnh) bỏ kinh thành lên Yên Tử. Chuyện kịch xảy ra lúc đó Trần Thái Tông 20 tuổi, Hoàng hậu Chiêu Thánh 19 tuổi.
Lấy lý do vua và hoàng hậu chƣa có con nối nghiệp, thái sƣ Trần Thủ Độ cùng với vợ là công chúa Thiên Cực sắp đặt cho công chúa Thuận Thiên (vợ Trần Liễu - chị gái Lý Chiêu Hoàng) đang mang thai lấy Trần Thái Tông. Vì sự kiện này, nhà Trần lục đục. Trần Thái Tông hoang mang trƣớc triều chính và thế sự, bỏ ngôi vua lên Yên Tử tìm đến cửa Thiền. Trần Thủ Độ theo lên Yên Tử rƣớc vua về.
Lúc đầu vua không nghe nhƣng do thù trong giặc ngoài, sự an nguy của quốc gia xã tắc, Trần Thái Tông trở về kinh đô ổn định triều chính, chấn hƣng đất nƣớc. Với cốt truyện này, Trần Cảnh có vẻ nhƣ nhân vật chính nhƣng thực ra, đó chỉ là một cái cớ lịch sử, một sự kiện hạt nhân để những nhân vật nhƣ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Thủ Độ, Thiên Cực, Lý Chiêu Hoàng, Trần Liễu… xung quanh. Tất cả các nhân vật đều là những yếu nhân của hai triều đại. Họ vừa là ngƣời tận mắt chứng kiến cuộc chuyển giao quyền lực chính trị giữa hai vƣơng triều, vừa là chủ nhân, vừa là nạn nhân của những biến cố lịch sử diễn ra dƣới tác động của những nhân tố chủ quan, khách quan.
Vào kịch Nguyễn Đình Thi, nghiệp lớn của nhà Trần mới dựng, gốc còn chƣa sâu, rễ còn chƣa bền, lòng ngƣời đang cơn xáo trộn, tam giác nhân vật Trần Thủ Độ - Trần Cảnh - Lý Chiêu Hoàng rơi vào cơn biến loạn. Mỗi ngƣời ở vị thế của mình phân tích thời cuộc, nhìn lại chỗ đứng của mình, đƣa ra những quyết sách hành động. Trần Thủ Độ là ngƣời thức thời hơn cả “từ khi nhà Trần ta mở nghiệp, tiếng vậy tôi cũng mới là lo đƣợc một việc quét dọn đấy thôi. Từ nay trở đi, công việc mới càng ngày càng nhiều”.
Ông ý thức rất rõ đƣợc việc đến lúc ông phải lui về sân sau, cũng lại không quên cảnh tỉnh: “Nhƣng tôi mà chƣa chết thì không ngủ đâu. Tôi còn phải mở to mắt cho anh em bệ hạ đừng có đem cơ nghiệp nhà Trần này mà đổ xuống sông xuống biển, rồi còn làm cho cả thế nƣớc phải nghiêng ngả rối ren”. Lý Chiêu Hoàng là ngƣời thức thế hơn cả. Khi nói với Trần Thủ Độ: “Việc nƣớc là việc lớn nhƣng việc ngƣời cũng không phải nhỏ hơn”.
Khi nói với Chiêu Cực: “từ hôm nay Lý Chiêu Hoàng này rời bỏ ngôi báu… Ta cởi bỏ cho các ngƣời ra khỏi thân phận một bọn tiếm quyền, mà đƣợc chính danh giữ việc nƣớc, thế thì các ngƣời hãy ra khỏi cõi tối tăm, quỷ quyệt, mƣu mô, từ nay giữa thanh thiên bạch nhật hãy hết lòng phù tá ngƣời kế nghiệp ta, giữ gìn lấy giang sơn nhà Lý ta giao lại. Bờ cõi này còn chƣa vững chắc thì các ngƣời phải ăn không ngon, ngủ không yên! Còn ta, từ nay ta sẽ làm một ngƣời dân thƣờng, xa nơi triều chính… Ta đã nói, bà đã nghe. Hãy tuân theo ý ta, từ nay hãy để ta yên”. Còn Trần Cảnh hành động nhiều hơn cả, cũng dùng dằng nhiều hơn cả: “Đêm nay rời bỏ cung điện này, ta không nghĩ đến trở về.
Ta muốn tìm đến nơi rừng trúc Yên Tử, xa mọi việc đời, theo hầu Đức Phật”. Nói là đi, đi rồi nhìn đời nhìn ngƣời, và nhận ra “Còn phải đi tìm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phật ở rừng trúc nào”… “con chim non, ra ngoài trời gió, tiếng vậy cũng bay đƣợc rồi!”. Cả ba nhân vật, ở vị thế nào cũng đều vì xã tắc, cũng tự nhận lấy hi sinh về mình. Một Trần Cảnh - vua một nƣớc, một Lý Chiêu Hoàng - vua của triều đại trƣớc, một Trần Thủ Độ - nhiếp chính vƣơng, thiết tƣởng ba ngƣời ở ngôi cao chí vị ấy có thể sắp đặt, xoay chuyển mọi lẽ của lịch sử, quốc gia, dân tộc, con ngƣời tuỳ sở thích.
Nhƣng không phải! Đứng trƣớc ranh giới tận hạn của phận vị cá nhân, trong sự nhìn nhận con ngƣời cá nhân với xã tắc dân tộc, với quốc gia lịch sử, cá nhân trở thành bé nhỏ. Họ buộc phải thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trƣớc khi biết đến quyền lợi, hƣởng thụ. Nếu vì những điều chung, lớn lao mà quyền lợi, tham vọng cá nhân có bị ảnh hƣởng thì quyền lợi, tham vọng ấy cũng là điều hi sinh trƣớc nhất. Có thể thấy Nguyễn Đình Thi không xoáy sâu vào tình huống đất nƣớc với những rối ren, biến loạn gƣơm đao, những xung đột vũ lực giữa các thế lực mà tập trung bút lực vào xây dựng những tính cách, những số phận có tính quyết định đến vận mệnh đất nƣớc trong hoàn cảnh đó.
Những cuộc đấu tranh thầm lặng mà giằng xé, quyết liệt trong nội tâm của con ngƣời. Những bóng tối và ánh sáng làm sao để khai thông trong tƣ tƣởng. Mỗi cá nhân vƣợt qua nỗi sợ hãi, sự mất mát, đớn đau trong bản thể nhỏ bé của mình để hi sinh cho những điều lớn lao, cho quốc gia dân tộc.