CHƯƠNG I Cơ Sỏ LÝ THUYẾT VA LỊCH sử VẤN ĐÊ 1. Vãn bản và vàn bản hợp dồng kinh doanh quốc tế. LKháiniệm vàn bản. Trong cuộc sống, con người giao tiếp với nhau không phải bằng một câu hoặc những câu rời rạc mà bằng những câu có liên quan đến nhau- những câu tạo thành một văn bản.
Nhiều tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau vé văn bản. Đằng sau mỗi định nghĩa là những quan niệm, những cách hiểu khác nhau về vãn bản. Sau đây là một số định nghĩa: G. Yule (1983 - tr 128) “ Chúng ta sẽ sử dụng văn hàn như một thuật ngữ chuyên món, đ ể nói đến việc ghi lại hằng ngôn từ của một hoạt động Trần ngọc Thêm (1985 - tr 34) “Nói một cách chung nhất thì văn hàn là một ỉìệ thống mà trong đó các cân mới chỉ Ici các phần tử.
Ngoài các câu - phẩn tử, trong hệ thống văn bản cỏn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bàn chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối liên hệ của nó với những câu xung quanh nối riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ áy". Nunan(1993 - tr 32) "''Tôi sẽ sử dụng thuật ngữ vàn bản đ ể chỉ bất kỳ cái nào ghi hằng chữ viết cíưi một sự kiện giao tiếp”.
Diệp Quang Ban (1998 - tr 28) "Văn bản ” là chuồi nổi tiếp của các đơn vị tìiịôn ngừ được ỉàm thành bởi một dây chuyền của các phương tiện th ế có hai trắc diện “trục dọc và trục ngang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ các quan điểm và nhận định về văn bản như đã trích dản ở trên, đã giúp cho chúng tôi một cái nhìn tương đối bao quát về đơn vị cao nhất của ngôn ngữ này. Khi xét văn bản là đối tượng của ngôn ngữ học, Diệp Quang Ban (1998 - tr 33) đã đưa ra nhận định sau: ‘Yứ/ì bản: - Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đ ể tài - chủ đề. của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một chuyện kể, một hài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường, ịl) - Vân học. Trước hết được coi như một ìài liệu viết, thường đồng nghĩa với sá ch.(2) Trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, à m diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng hao gồm cả văn hán.
”(3) Chúng tôi nhận thấy ràng định nghĩa trên mang tính khái quát cao, thể hiện được nhiều quan điểm khác nhau. Nó vừa bao gồm cả cách hiểu văn bản trong văn học và trong bộ môn phân tích diễn ngôn. Giả dụ, khi xét văn bản đồng nhấl với diễn ngôn nghĩa là chúng ta không phân biệt chúng, chúng tôi sẽ coi tất cả các ngôn phẩm mang tính thông báo hoàn chỉnh là vãn bản. Văn bản có thể là một tiếng kêu “help !” hay có thể là một thiên tiểu thuyết (áp dụng định nghĩa 1).
Khi coi văn bản là “sự biểu hiện của diễn ngôn” hoặc văn bản là “ sản phẩm của ngôn ngữ viết và ngôn bản là sản phẩm ngôn ngữ nói” (Hồ Lê, tr. 51 ) ta áp dụng định nghĩa 1 và vế thứ hai của định nghĩa 3. Với mục đích cụ thể của luận văn này chúng tôi chọn định nghĩa của Nunan (1993 - tr 32) : 'T ô i sẽ sử dunq thuật nẹữ ván bán đ ể chỉ hất kỳ cúi nào íịIú hằniỊ chữ viết của một sự kiện giao tiếp ' và coi định nghĩa này là cơ sở lý luận cho đề tài của mình. Thực tế cho thấy ràng, văn bản vừa là nơi cung cấp tư liệu, ià hiên thưc ngôn ngữ trực tiếp cho mọi khao sát và phân tích.
Vãn bản cũng là nơi thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành chức năng, biểu hiộn cấu trúc và chuẩn mực ngôn ngữ. Sau đây là những đặc trưng thực tiễn cụ thể của văn bản xét ở phương diện văn bản trong bản thân nó và trong mối quan hệ với những yếu tố khác có liên quan đến nó. Đặc trưng của vàn bản ì. Chúc nàng của vởn bàn : Theo định nghĩa như đã đẫn ở trên; “Văn bản là một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đ ể tài - chủ đề .của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như mộtchuyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường." Ta thấy rằng ngưòi tạo văn bản dùng lời nói (miệng hay viết) để thực hiộn một hành động nào đó nhằm tác động vào ngưòi nghe.
Ví dụ: - Có điện thoại kìa (câu yêu cầu) - Em đang tắm ( câu xin lỗi) - Quý hoá quá (câu cảm 0fn) Nói như vậy, chức năng của văn bản cũng chính là chức năng giao tiếp - đây cũng chính là chức năng cơ bản của ngôn ngữ. Nội dung của vân bản Văn bản phải thể hiện rỏ tính thống nhất đề tài - chủ đề. "'Những đề tài - chủ đê' xác định giúp phân biệt văn bản với chuỗi câu nối tiếp lạc đề, hoặc xa hơn nữa, phân biệt với chuồi câu không mạch lạc, tình cờ đứng cạnh nhau, tạo ra “chuỗi bất thường vé nghĩa" (Diệp Quang Ban - tr 22). Tuy nhiên trong thực tế, không phải bất cứ văn bản nào cũng có đủ tính thống nhất giừa đề tài - chủ đề.
"Tính thống nhất đề tài - chủ đề chỉ là kết quá của mạch lạc". LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. C ác câu trúc vởn bàn: Đây là yếu tố quyết định việc thành văn bản. Cấu trúc văn bản kiểu Hỏi - Đáp, Bài toán-Giải đáp, Giả định - Thực tế có chung nhiều nét giống nhau.
Mục đích của kiểu cấu trúc văn bản này là giúp người viết đi đến một câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi của mình được đặt ra ngay ở đầu văn bản. Ví dụ: Luân đôn - quá đắt đỏ? Luân đôn là thành p h ố đắt đỏ nhất ở Anh. Nhưng đắt là đắt như th ế nào? Theo các nhà tư vấn quốc tể, ngày nay ở Luân đôn cố rất nhiều khách sạn thu trên 90 bảng Anh một đêm đối với phòng một giường. T h ế nhưng nếu sự lựa chọn khách sạn của bạn khiêm tốn hơn một tí bạn vẫn phải trả gần gấp đôi so với bạn ở cấc nơi khác của Anh.
Trong văn bản trên tình huống được thiết lập bao gồm một câu hỏi chưa có câu trả lời. Sau đó là câu trả lời với những chứng lý của nó. Một loại cấu trúc văn bản khác nữa là cấu trúc từ khái quát dẫn đến cụ thể. Cấu trúc này được mô hình hoá như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ví dụ cùa những kiểu cấu trúc này có thể thấy trong các văn bản của những đại lý, những người cho thuê nhà, thư chào hàng của các thưcmg nhân.
Câu khái quái được tiếp nối bằng các câu mô tả chi tiết, mang tính đặc trưng, cuối cùng quay lại câu khái quát ban đầu. Ví dụ: Lạc nhân của chúng tôi bán rất chạy. Tháng 6 chúng tôi bán được 200 tấn cho thị trường Hồng Kông.Tuần qua chúng tôi lại nhận được đơn đặt hàng của một cồng ty của Đức hỏi mua tám ngàn tấn giao vào dịp Giáng sinh năm nay. Nhu cầu của khách hàng nước ngoài về lạc nhân của chúng tôi rất lớn.
Qui mô (độ dài) của văn bản không cố định tính theo chữ số hay đoạn văn bản. Điểm đáng lưu ý là bất kỳ một văn bản nào cũng đều có thể có từ một đến nhiều kiểu cấu trúc và đôi khi kiểu cấu trúc nọ đan xéo kiểu cấu trúc kia. Vàn bán hợp đồng kinh doanh quốc tế 1.1, Khái niệm về hợp dồng kinh doanh quốc tế Về cơ bản, hoạt động thưcfng mại ở tất cả các quốc gia đều diễn ra dưới hai hình thức: mua bán nội địa và mua bán quốc tế. Các hoạt động mua bán quốc tế thường là các hoạt động mua bán xuyên biên giới, nghĩa là hoạt động giữa các bên kinh doanh hàng hoá và dịch vụ thuộc các quốc gia khác nhau.
Hoạt động này được tiến hành theo ý chí của các chủ thể đàm phán và ký kết hợp đồng. Một hoạt động thưcfng mại quốc tế thông thường diễn ra ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn tiến hành đàm phán và giai đoạn ký kết hợp đồng (hợp đồng kinh doanh quốc tế - HĐ). Hợp đồng kinh doanh quốc tế là sự thoả thuận bằng văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (trong đó có nhân tố nước ngoài) để cùng nhau tiến hành các hoạt động kinh doanh theo những thoả thuận được thể hiện qua hình thức các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dụng và thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Hợp đồng kinh doanh quốc tế có những đ ặc điểm sau Về nội dung; HĐ được ký kết nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là chức năng, nhiệm vụ, là mục tiêu của các hoạt động kinh tế, vì vậy mục đích kinh doanh luôn được thể hiện hàng đầu trong các hợp đồng mà các chủ thể kinh doanh ký kết, nhằm xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình. Về chủ thể của hợp đồng: Theo điều 2 của pháp lệnh hợp đồng kinh tế, thì hợp đồng kinh doanh quốc tế được ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân hay pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Như vậy, trong mối quan hệ hợp đồng kinh tế, ít nhất phải có một bên là pháp nhân, còn phía bên kia có thể là pháp nhân, cũng có thể là cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và phải ký kết trong phạm vi nghề nghiệp kinh doanh đã đăng ký. Và một điều có tính hiển nhiên là HĐ phải có sự tham gia của nhân tố nước ngoài Về hình thức: HĐ phải được ký kết bằng văn bản.
Ngôn ngữ thường là tiếng Anh. Bản hợp đồng có chữ ký xác nhận nội dung văn bản đã ký kết của các bên tham gia. Phong cách ván bản và phong cách vàn bàn hành chính 2. Phong cách và phong càch chức nàng Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu là văn bản HĐ, việc phân biệt giữa phong cách và phong cách chức năng đối với chúng tôi cũng là một sự cần thiết.