mở đầu ngắn. Sử dụng thứ tiếng Anh hùng hồn. Phải khẳng định, không phủ nhận” (“Use short sentences. Use short first paragraphs.
Use vigorous English. Be positive, not negative”).Hemingway là những chuyến đi. Trong đó, ngoài những cuộc đi săn, đi câu cá, xem đấu bò tót, du lịch… thì những chuyến đi dài, tham gia vào các cuộc chiến tranh khốc liệt của thế giới cũng là những dấu ấn trong cuộc đời ông mà ngƣời ta không thể không nhắc đến khi nói về ông. Đó là ít nhất ba lần ông tình nguyện tham chiến và giáp mặt với tử thần.
Đầu tiên là ở miền Bắc nƣớc với vai trò là tài xế xe cứu thƣơng trong Thế chiến I (1918). Sau đó ông tham dự chiến đấu bên cạnh những chiến sĩ cộng hòa Tây Ban Nha (1938) với vai trò là phóng viên đƣa tin. Và cuối cùng là sự tham gia của ông trong hàng ngũ hải quân của Mỹ trong Thế chiến II với vai trò là chiến sĩ đánh tàu, rồi tiếp đó ông tham gia giải phóng Paris (1945). Việc tham dự chiến tranh đã trở thành một nét trong cách sống của E.
Theo ông, “có trải qua tất cả các nguy hiểm đó mới có thể tìm đƣợc chân lí về chiến tranh”. Là ngƣời trực tiếp chiến đấu trên chiến trƣờng nhiều lần và trở về sau nhiều cuộc đại chiến, phải đối mặt với biết bao khó khăn, gian khổ và những hiểm nguy, tàn bạo, E.Hemingway có lẽ là ngƣời hiểu chiến tranh hơn ai hết. Vốn là ngƣời thông minh, nhạy bén và là một phóng viên với nhiều kinh nghiệm, E.hemingway đến với nghiệp viết văn nhƣ một điều tự nhiên tất yếu. Đề tài đƣợc ông viết nhiều và thành công nhất cũng chính là chiến tranh.
Các tác phẩm của ông phần lớn đều nhận đƣợc sự ủng hộ của bạn đọc thế giới. Một số tác phẩm của ông đƣợc chuyển thể thành phim, dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau và xuất bản tại nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Gần bốn mƣơi năm cầm bút, Ernest Hemingway đã cho ra đời một số lƣợng tác phẩm khá lớn với nhiều thể loại nhƣ tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch… trong đó ông thành công nhất và đƣợc đánh giá cao nhất với thể loại tiểu thuyết.2 Con đường đến với văn học và những sáng tác của E.Hemingway 16 Ernest Hemingway bắt đầu viết văn từ rất sớm. Ngay từ khi còn học ở Trung học, ông đã bắt đầu viết cho tờ báo và cuốn niên giám của trƣờng và giữ vai trò biên tập khi lên học phổ thông.
Tuy nhiên, nghiệp viết văn của ông đƣợc chính thức đánh dấu bắt đầu khi ông trở thành phóng viên cho tờ báo Star vào năm mƣời tám tuổi. Tác phẩm đầu tay của ông đƣợc sáng tác ngay khi ông tham gia Thế chiến I. Sau hàng loạt những chứng kiến về cái chết về sự tàn bạo của chiến tranh, ông đã ghi lại những trải nghiệm này trong cuốn truyện ngắn đầu tay mang tên: A Natural History of the Dead (Câu chuyện có thật về cái chết). Tuy nhiên nó chƣa gây đƣợc tiếng vang cho ông.
Phải đến năm 1925, khi cuốn tiểu thuyết: “In Our Time” (Trong thời đại chúng ta) đƣợc xuất bản bởi Three Moutains Press ở Paris, tên tuổi của E.Hemingway mới bắt đầu gây đƣợc sự chú ý. Tác phẩm là những mẩu chuyện ngắn và những phác thảo sắc nét về cuộc sống hậu chiến. Là một nhà văn trƣởng thành từ những khốc liệt của chiến tranh, E.Hemingway hiểu rõ chiến tranh, hiểu rõ hết thảy những điều ngƣời lính phải trải qua trong chiến tranh. Chính vì vậy, sau những chuyến đi dài với nhiều trải nghiệm mới mẻ, E.Hemingway bị nhiều ám ảnh về cái chết.
Thƣờng mỗi lần trở về, phải mất một thời gian dài sau đó E.Hemingway mới có thể cầm bút viết về chiến tranh. Từ năm 1925 đến 1950 là giai đoạn thành công nhất trong sự nghiệp viết văn của ông về cả số lƣợng lẫn chất lƣợng. Trong giai đoạn này ông đã cho ra mắt hàng loạt những tác phẩm chủ yếu viết về chiến tranh và khẳng định tên tuổi của mình trên văn đàn thế giới. Đó là một loạt tiểu thuyết nhƣ: The Sun Also Rise (Mặt trời vẫn mọc, 1926), A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí, 1929), To Have and Have Not (Có và không có, 1937), For Whom the Bells Tolls (Chuông nguyện hồn ai, 1940), Across the River and into the Trees (Qua sông vào trong cánh rừng).Trong số đó, ặt trời v n mọc và Chuông nguyện hồn ai là hai tác phẩm đƣợc giới chuyên môn đánh giá cao và đƣợc bạn đọc trên khắp nơi trên thế giới yêu mến.
Sau hàng loạt những tác phẩm thành công viết về chiến tranh, E.Hemingway đã trở thành nhà văn gắn liền tên tuổi của mình với đề tài này. “Nhà văn chiến tranh” là cái tên mà giới nghiên cứu phê bình văn học thƣờng nhắc đến mỗi khi nói 17 về ông. Năm 1952, một lần nữa E.Hemingway lại khẳng định tài năng và tên tuổi của bản thân qua tiểu thuyết “The ld an and the Sea” Ông già và biển cả) với mảng đề tài mới mẻ về những chiêm nghiệm và triết lý sâu sắc từ cuộc sống.Tác phẩm đã mang lại cho ông sự thành công trọn vẹn cả về thƣơng mại lẫn phê bình văn học. Cũng từ thành công của cuốn tiểu thuyết, sau đó ông đã cho ra đời một số tác phẩm cùng đề tài và cũng mang lại dấu ấn riêng nhƣ Islands in the Stream, The Garden of Eden (Vườn địa đàng), True a irst light…Có thể thấy các tác phẩm này đã có nhiều đổi mới trong đề tài cũng nhƣ quan niệm về sáng tác của Hemingway.
Ngòi bút của ông dần hƣớng tới cuộc sống với nhiều tầng sâu, ẩn chứa nhiều bài học sâu sắc về nhân sinh quan. Trong quá trình đổi mới và phát triển văn học hiện đại ở thế kỉ XX, so với các nhà văn cùng thời, bằng những kinh nghiệm, sự nỗ lực làm việc cần mẫn, nghiêm túc và tài năng của mình, Hemingway đã xuất hiện nhƣ một ngôi sao sáng trên văn đàn thế giới và trở thành nhà văn tiêu biểu của văn học hiện đại thế kỉ XX. Hemingway xuất hiện trên nhiều tờ báo với những bài phỏng vấn trực tiếp rất nhiều lần, dù không ai có thể phủ nhận tài năng của ông nhƣng E.Hemingway vẫn luôn tỏ ra khiêm nhƣờng khi trả lời về khả năng viết của bản thân.Hemingway đã thu hút đƣợc sự quan tâm và yêu thích của rất nhiều bạn đọc trong nƣớc và trên thế giới. Nhiều tác phẩm của ông đã tạo ra nhiều luồng tranh luận trong giới phê bình văn học và bạn đọc.
Nhƣng những “đứa con tinh thần” của ông vẫn tràn đầy sức sống và cuối cùng tài năng của E.Hemingway cũng đƣợc khẳng định bằng những giải thƣởng danh giá nhƣ giải Cống hiến của Học viện Văn học – Nghệ thuật Hoa Kì, năm 1954; giải Pulitzer cho tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai, năm 1941 và cho tiểu thuyết Ông già và biển cả, năm 1953; giải Nobel cho những cống hiến văn học trọn đời của E. Với những điều đã đạt đƣợc cùng những cống hiến lớn lao cho nền văn thế giới, E.Hemingway xứng đáng là nhà văn tiêu biểu và là “cây đại thụ” của nền văn 18 học hiện đại thế kỉ XX.3 Đôi nét về phong cách viết của E.Hemingway Qua tìm đọc các tác phẩm của E.Hemingway và những bài nghiên cứu về ông của những ngƣời đi trƣớc, chúng tôi nhận thấy phong cách E.Hemingway đƣợc định hình và thể hiện rất rõ qua tiểu thuyết cả về phƣơng diện nội dung và nghệ thuật. Về nội dung, các tác phẩm của E.Hemingway đều thể hiện một chủ nghĩa nhân đạo rõ rệt một sự khẳng định cuộc sống của những con ngƣời có nguồn sinh lực dồi dào. Từ tác phẩm ặt trời v n mọc cho đến tác phẩm cuối cùng Ông già và biển cả, ta thấy các nhân vật của E.Hemingway khát khao yêu cuộc sống và luôn đứng về phía tiến bộ để chiến đấu chống cái gì đó vô nhân đạo và phi lí, phi nghĩa.
Đa phần các tác phẩm của E.Hemingway mô tả một xã hội tàn nhẫn trong đó con ngƣời phải đấu tranh gay gắt. Qua đó ca ngợi những con ngƣời biết hi sinh cho một lý tƣởng, hoặc đã chịu đựng một sự thất bại bên ngoài để đổi lấy một sự chiến thắng về tinh thần ở bên trong (El Sordo, Santiago). Các nhân vật chính là những ngƣời Mỹ, vì nhiều lý do khác nhau họ từ bỏ nƣớc Mỹ. Họ đứng lên chiến đấu trƣớc nguy hiểm vì tình yêu, họ không hề từ bỏ chiến đấu, họ vẫn hoàn thành trách nhiệm.
Về cách viết, Hemingway nổi tiếng với nguyên lí “Tảng băng trôi” cùng những ngôn từ cô đọng, súc tích, những câu văn ngắn có hàm nghĩa sâu sắc ẩn chứa bên dƣới tạo nên chiều sâu giá trị cho tác phẩm. Đặc biệt trong cách dùng từ ngữ, ông thƣờng dùng những từ ngữ giản dị nhất, thông thƣờng nhất với cách viết tự nhiên đã tạo nên một nhịp điệu riêng, một sắc thái, một nhạc tính độc đáo của riêng ông mà ngƣời khác không thể bắt chƣớc đƣợc. Ngoài ra, lối viết của Hemingway còn độc đáo ở nghệ thuật đối thoại đậm văn phong của “nhà báo”. Tuy nhiên, những đoạn đối thoại với những câu nói rất ngắn, tƣởng chừng nhƣ cộc lốc lại phục vụ cho những tình tiết, cho việc bộc lộ nội tâm nhân vật một cách sâu sắc.
Bên cạnh đó, Hemingway còn vận dụng rất thành công nghệ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức để phục vụ cho việc khắc họa tâm lý cũng nhƣ tính cách của nhân vật. 19 Tất cả những nét đặc trƣng về cả nội dung lẫn nghệ thuật trên đã tạo nên phong cách riêng biệt trong văn phong của E.Hemingway, nhất là với thể loại tiểu thuyết.3 Tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai 1.1 Hoàn cảnh sáng tác Năm 1936, E.Hemingway trở lại Binimi khi cuộc nội chiến nổ ra ở Tây Ban Nha – quốc gia ông yêu mến nhất sau đất nƣớc của mình – với tƣ cách là phóng viên của Liên đoàn báo chí Bắc Mĩ. Tại đây ông đã bỏ ra một số tiền riêng của mình để mua xe cứu thƣơng cho quân đội Cộng hòa. Ông ủng hộ phe Cộng hòa và luôn tin rằng quân dân Tây Ban Nha sẽ giành đƣợc thắng lợi trƣớc phe phát xít.
Vì vậy, mùa xuân năm 1939, việc phe phát xít giành đƣợc chiến thắng ở Tây Ban Nha đã trở thành một bi kịch sâu sắc trong Hemingway.Ngay sau đó ông đã bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai.Hemingway sáng tác suốt mƣời bảy tháng liên tục và hầu hết tác phẩm đƣợc viết trong căn phòng trên góc tầng năm của khách sạn Ambos Mundos ở Havana. Tháng 7 năm 1940, tác phẩm đƣợc hoàn thành và xuất bản tại New York vào tháng 11 năm 1940.