Chương 1- Một phát kiến khoa học, gồm có 3 tiết: I - Sự đối lập giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. II - Giá trị cấu thành hay giá trị tổng hợp. III - Việc ứng dụng quy luật tỷ lệ giữa các giá trị. 15 Trong chương này, C.Mác tập trung phê phán những sai lầm của Pru- đông về tính không tưởng trong những quan niệm về kinh tế, về những biện pháp mà Pru-đông đưa ra để cải cách kinh tế.
Cụ thể là các quan niệm của Pru- đông trong lý luận về giá trị, về giá trị cấu thành, sự ứng dụng của quy luật tỉ lệ. và đặc biệt là các biện pháp cải cách kinh tế được rút ra từ những lý luận đó của Pru-đông. Qua đó ta thấy được sự phản động trong những quan niệm, biện pháp đó của Pru-đông. Thông qua phân tích các phạm trù kinh tế, các quy luật giá trị.Mác phê phán Pru-đông đã không thấy những mâu thuẫn biện chứng mà các nhà kinh tế trước đó tìm ra như mâu thuẫn giữa giàu có và cùng khổ, thừa thãi và thiếu thốn là những mặt đối lập vốn có của xã hội tư bản.
Thực tế giàu có sinh ra do bóc lột những người bần cùng, thừa thãi sinh ra do thiếu thốn, cho nên không thể xóa bỏ tận gốc sự cùng khổ nếu không xóa bỏ xã hội tư bản. Khi Pru-đông cho rằng chỉ cần xóa bỏ đi phương diện xấu xa của chủ nghĩa tư bản thì lý trí công bằng được thực hiện như để xóa bỏ tự do cạnh tranh thì cần thiết phải bổ sung bằng độc quyền, còn để chống độc quyền thì dùng chính sách thuế khóa.Mác như vậy là phản biện chứng. Pru-đông còn phủ nhận tính chất hai mặt của mâu thuẫn, xóa nhòa đấu tranh giữa hai mặt đối lập trong chủ nghĩa tư bản, ông ta chỉ thấy sự cùng khổ của giai cấp vô sản mà không thấy tính chất cách mạng của nó, từ chối đấu tranh và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phê phán quan điểm đó, C.Mác cho rằng mâu thuẫn trong các xã hội có giai cấp là không thể điều hòa được, cách mạng xã hội chủ nghĩa là tất yếu để giải quyết những mâu thuẫn đó.
Như vậy, bằng văn phong sắc sảo, lập luận đanh thép, tinh thần đấu tranh trướng những tư tưởng phản khoa học, phản động của Pru-đông, C.Mác đã phân tích làm rõ những sai lầm của Pru-đông trong quan niệm cũng như trong hoạt động về kinh tế. Chương 2- Phép siêu hình của khoa kinh tế chính trị, gồm 5 tiết I - phương pháp. 16 II - Phân công lao động và máy móc III - Cạnh tranh và độc quyền IV - Quyền sử hữu ruộng đất hay địa tô V – Những cuộc bãi công và những liên minh của công nhân. Trong chương này, thông qua 7 nhận xét quan trọng C.Mác đã đấu tranh quyết liệt với những luận điểm mang tính duy tâm, siêu hình của Pru-đông.
Đồng thời với việc phê phán các quan điểm đó, C.Mác còn trình bày những nguyên lý triết học để bổ sung và phát triển những nguyên lý duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác. Tiếp sau phần phương pháp với 7 nhận xét đó, C.Mác tiến hành phê phán hàng loạt các quan điểm sai lầm của Pru-đông trong vấn đề phân công lao động, độc quyền, phong trào công nhân mà Pru-đông trình bày trong “Hệ thống những mâu thuẫn kinh tế hay sự khốn cùng của triết học”. Cũng chính từ sự phê phán này, C.Mác trình bày các nguyên lý về phương thức sản xuất, biện chứng của tồn tại xã hội, ý thức xã hội, mối quan hệ lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, về vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân. Đáp lại các quan điểm của các nhà kinh tế học tư sản coi phương thức sản xuất tư bản là vĩnh viễn, C.Mác đã chứng minh xã hội tư bản cũng là hình thức tạm thời trong lịch sử, lịch sử loài người là quá trình hợp quy luật trong đó sự phát triển của lực lượng sản xuất quy định sự thay thế quan hệ sản xuất này bằng quan hệ sản xuất khác.Mác còn vạch ra tính chất đối kháng trong xã hội tư bản và các xã hội có giai cấp, đồng thời chỉ ra lực lượng có vai trò, sứ mệnh lịch sử xóa bỏ sự đối kháng đó.Mác tập trung trình bày rất nhiều những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử khi ông tiến hành phê phán Pru-đông, ông phê phán tính duy tâm, tư biện, siêu hình, không tưởng trong các quan điểm của Pru-đông và cũng thông qua đó trình bày các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của mình.
17 * Tiểu kết chƣơng 1 Tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” ra đời từ yêu cầu của cuộc đấu tranh chống trào lưu vô chính phủ trong giai đoạn đề xuất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, trong bối cảnh kinh tế xã hội hết sức nóng bỏng của Tây Âu những năm 40 của thế kỷ XIX, nó mang tính bút chiến mẫu mực - không chỉ đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác qua việc phê phán một cách quyết liệt các luận điểm phản khoa học của chủ nghĩa vô chính phủ đang len lỏi ảnh hưởng đến phong trào công nhân mà qua đó nó còn trình bày hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác. Tác phẩm ra đời trực tiếp từ sự đấu tranh chống lại các trào lưu phản động, những lực lượng đang gây ảnh hưởng nguy hiểm đến phong trào công nhân, khẳng định thế giới quan duy vật biện chứng. Với ngôn ngữ sắc sảo, tinh thần đấu tranh không khoan nhượng tác phẩm xứng đáng là một tác phẩm mẫu mực về tinh thần luận chiến.Mác còn trình bày những nguyên lý duy vật lịch sử trên cơ sở vững chắc của những nguyên lý duy vật biện chứng. Qua đó, ta thấy những nguyên lý duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của C.Ănghen đã có sự chín muồi nhất định.
Như vậy, đây nền vững chắc cho sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”. 18 CHƢƠNG 2 SỰ PHÊ PHÁN CỦA C.MÁC ĐỐI VỚI TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC CỦA PRU-ĐÔNG VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ PHÊ PHÁN ĐÓ. Sự phê phán của C.Mác đối với tƣ tƣởng triết học của Pru-đông trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” 2. Sự phê phán của C.Mác đối với tư tưởng triết học mang tính duy tâm của Pru- đông.Mác viết trong giai đoạn đề xuất những nguyên lý của chủ nghĩa Mác.
Vào đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản thông qua cách mạng công nghiệp đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, cùng với đó là sự lớn mạnh của phong trào công nhân, nhiều thành tựu của khoa học, lý luận đặc biệt là những thành tựu trong lĩnh vực tư tưởng. Mà không thể không kể đến đó là nền triết học cổ điển Đức với thành tựu nổi bật là hệ thống triết học hết sức đồ sộ của Hê- ghen. Tuy là triết học duy tâm nhưng tinh hoa trong nó chính là phép biện chứng. Chính bởi vậy mà tư tưởng triết học của Hê-ghen ảnh hưởng mạnh mẽ đến rất nhiều nhà triết học sau đó.
Nhiều người kế thừa những điểm hợp lý, những hạt nhân của hệ thống đó để phát triển nó lên để tạo nên những hệ thống, những quan điểm hết sức đúng đắn, khoa học. Ngược lại, có nhiều nhà triết học, chính trị học lợi dụng sức ảnh hưởng, lợi dụng yếu tố duy tâm trong hệ thống ấy để thực hiện những mục đích chính trị khác nhau, gây ảnh hưởng xấu, kìm hãm sự phát triển của khoa học, của lịch sử xã hội loài người và còn để chống đối, xuyên tạc những quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác. Bởi vậy, trong quá trình hình thành, phát triển những nguyên lý của mình thì chủ nghĩa Mác luôn phải đấu tranh chống lại những luận điểm phản khoa học, phản động đó. Trong tác phẩm này, C.Mác đã đấu tranh trực diện, luận chiến một cách quyết liệt trước những luận điểm phản khoa học, phản động của chủ nghĩa vô chính phủ Pru-đông, trước những ảnh hưởng nguy hiểm của nó đối với phong 19 trào công nhân.Mác luận chiến hết sức quyết liệt trước những luận điểm mang nặng tính chất duy tâm của Pru-đông mà nguồn gốc, cơ sở của nó chính là chủ nghĩa duy tâm Hê-ghen.
Ngay từ lời nói đầu, C.Mác khẳng định tác phẩm của Pru-đông “không phải chỉ là một tập sách kinh tế chính trị, một quyển sách bình thường, đó là một kiểu kinh thánh, "những sự thần bí" "những điều bí mật rút ra từ trong lòng "Thượng đế", "những mặc khải", chẳng thiếu cái gì. Nhưng vì, ngày nay, các nhà tiên tri bị người ta đưa ra phán xét một cách nghiêm khắc hơn là những tác giả phàm tục, cho nên bạn đọc hãy kiên tâm cùng với chúng tôi điểm qua lý luận uyên bác khô khan và u ám của "Sáng thế ký", để rồi sau này sẽ cùng với ông Pru-đông bay lên những miền phiêu diêu và giầu có của siêu chủ nghĩa xã hội”.Mác đã chứng minh nó chính xác “là một kiểu kinh thánh” trong toàn bộ tác phẩm của mình. Bắt đầu cuộc chiến phê phán ấy, vào đầu tác phẩm C.Mác đã so sánh, mỉa mai ông Pru-đông trong mắt độc giả ở Pháp và Đức, cũng qua đó C.Mác trình bày rõ mục đích tác phẩm của mình. Đó là phê phán những sai lầm của Pru-đông, của triết học Đức và cung cấp một số nhận xét cho kinh tế chính trị học.
Khi “Ông Pru-đông gặp điều không may là ở châu Âu, lạ lùng thay, ông không được người ta hiểu. Ở Pháp, người ta thừa nhận ông ta có quyền là một nhà kinh tế học tồi, bởi vì ông ta vốn có tiếng là một nhà triết học Đức giỏi. Ở Đức, ngược lại, người ta thừa nhận ông ta có quyền là một nhà triết học tồi, bởi vì ông vốn có tiếng là một nhà kinh tế học Pháp vào hạng cừ nhất. Chúng tôi, với tư cách vừa là người Đức vừa là nhà kinh tế học, chúng tôi muốn phản đối lại sự sai lầm có tính chất hai mặt ấy.
Bạn đọc sẽ hiểu cho rằng, trong công việc bạc bẽo này, nhiều khi chúng tôi đã phải bỏ việc phê phán ông Pru-đông để tiến hành phê phán triết học Đức và đồng thời còn cung cấp một số nhận xét về khoa kinh tế chính trị”.[8, tr 101] 20 Chính qua đó, C.Mác đã bóc trần bản chất duy tâm của Pru-đông khi “ chỉ làm cái việc là đi theo những “mâu thuẫn” của ông Pru-đông thôi”, với những dẫn chứng cụ thể, lập luận đanh thép cuộc luận chiến trở nên sâu sắc, quyết liệt hơn. Thứ nhất, tính chất duy tâm đươc thể hiện ngay trong nhận xét thứ nhất, C.