MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ - thành tựu lớn nhất của con người - là một hệ thống tín hiệu đặc biệt. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh ngiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng nhau thực hiện những dự định tương lai. Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nền văn hoá loài người. Ngôn ngữ giúp trẻ tích luỹ kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúp trẻ điều chỉnh, lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực.
Ngày nay trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ , chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục phát triển toàn vẹn nhân cách trẻ. Trường mầm non là nơi tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn vẹn nhân cách cho trẻ, trong đó vai trò của nhà giáo dục và hoạt động tích cực của từng cá nhân trẻ có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của trẻ nói chung và phát triển ngôn ngữ của từng trẻ nói riêng. Song trên thực tế để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giáo viên mầm non đã làm gì để cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú, dạy trẻ phát âm chuẩn? Hay khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữ giáo viên đã phát huy được tính tích cực, đã tạo điều kiện cho trẻ được luyên tập khả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của mình trong các tình huống khác nhau của hoạt động ngôn ngữ chưa ?. Trong công tác giáo dục trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo, việc giáo dục ngôn ngữ giữ một vai trò quan trọng.
Bởi ngôn ngữ giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, nó là phương tiện giúp trẻ giao tiếp với mọi người xung quanh, làm phong phú đời sống tinh thần của đứa trẻ. Ngôn ngữ còn là phương tiện điều khiển, điều chỉnh hành vi, là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực. Vì vậy phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những việc làm cần thiết và phải bắt đầu từ lứa tuổi mầm non. 1 Mặc dù ngôn ngữ đã được coi là một nội dung trọng yếu ở trường Mầm non, song ở lứa tuổi này ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế nhiều mặt về phát âm, vốn từ vựng, khả năng hiểu nghĩa của từ, khả năng diễn đạt lời nói mạch lạc….
Ngoài ra do năng lực của từng cá nhân trẻ, môi trường và điều kiện sống cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Vì vậy, cần có các biện pháp tích cực nhằm tang cường, củng cố, phát triển từ cho trẻ mẫu giáo. Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp còn máy móc, chủ quan, cảm tính, thiếu cơ sở khoa học. Giáo viên chưa chú trọng tới vốn từ, nắm nghĩa từ của trẻ.
Do đó, việc sử dụng từ còn hạn chế làm cản trở nhận thức, giao tiếp của trẻ. Xuất phát từ những lý do trên, em thấy rằng nghiên cứu đề tài „„Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở một số trường Mầm non Huyện Yên Định, Thanh Hóa’’ là rất cần thiết nhằm góp phần đưa ra một loạt biện pháp phát triển từ cho trẻ có cơ sơ khoa học. Mục đích nghiên cứu 2. Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
Tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp phát triển từ cho trẻ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của tác động sư phạm trong quá trình giáo dục, tạo cơ sở ban đầu để hình thành nhân cách phát triển toàn diện, chuẩn bị cho trẻ bước vào trường phổ thông. Nhiệm vụ nghiên cứu 3. Hệ thống hóa các vấn dề lý luận có liên quan đến đề tài. Khảo sát thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học ở trường Mầm non.
Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học ở trường Mầm non. Kiến nghị, các giải pháp. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non.
Khách thể nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở 2 điều kiện phát triển khác nhau: nông thôn và thị trấn + Trường Mầm non thị trấn Quán Lào-Yên Định-Thanh Hóa + Trường Mầm non xã Định Tăng-Yên Định-Thanh Hóa 5.Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi của khóa luận chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: 5. Tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ của trẻ 3-4 tuổi 5. Nghiên cứu một số thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi và triển khai thực nghiệm tại 2 trường Mầm non của huyện Yên Định-Thanh Hóa với điều kiện thị trấn và nông thôn.Phƣơng pháp nghiên cứu 6. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, sử dụng và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài, chỉ ra được các biện pháp tích cực nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi.
Phương pháp quan sát: Quan sát và ghi chép thực trạng phát triển vốn từ của giáo viên và việc phát triển của trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học. Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket Nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức và sử dụng các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ của giáo viên Mầm non trong hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học, thực trạng hiệu quả của sự phát triển từ ở trẻ dưới tác động của các biện pháp thực nghiệm. Phương pháp thống kê toán học: Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý những số liệu thu thập. 3 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3-4 TUỔI 1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi Trẻ em ở lứa tuổi 0-6 tuổi là giai đoạn có những bước phát triển mạnh mẽ về tư duy, nhận thức, ngôn ngữ.
Những tri thức đó có ý nghĩa quan trọng cho tiền đề để sự phát triển toàn diện về tri thức và nhân cách sau này của trẻ. Bởi thế sự phát triển của trẻ, đặc biệt là phát triển về ngôn ngữ được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Nhiều tác giả nổi tiếng nước ngoài đã nghiên cứu về tâm lý học ngôn ngữ như: J. Xuất phát từ quan điểm về sự phát triển tâm lý, J.Vuwgotxki nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga đã tập trung nghiên cứu tư duy và ngôn ngữ của trẻ.
Tuy nhiên nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách có hệ thống nhất phải nhắc tới bà E.Tikhêêva – nhà sư phạm nổi tiếng nước Nga, bà đã dành trọn cả đời mình vì sự phát triển của trẻ thơ. Ở Việt Nam vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ cũng đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Các công trình về ngôn ngữ trẻ em: Giáo trình: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” của các tác giả: Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng. Giáo trình:”Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tác giả Nguyễn Xuân Khoa.
Các luận văn, luận án của một số tác giả nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ ở trẻ em: Luận án: “Những đặc trưng về ngữ pháp trong câu nói của trẻ từ 1-3 tuổi” của Lưu Thị Lan Luận án: “Bước đầu tìm hiểu vốn từ trẻ em ở lứa tuổi 1-3 tuổi” của Hồ Minh Tâm. 4 Luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu thực trạng hiểu từ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi” (1998) Nguyễn Thị Mai. Luận văn thạc sĩ: “Tìm hiểu thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ em mẫu giáo 5 tuổi Hà Nội qua trắc nghiệm” Đỗ Thị Thanh Mai Luận văn thạc sĩ: “Hiện trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo” (1989) Bùi Anh Tuấn Luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé (3-4 tuổi) thông qua hoạt động làm quen với thiên nhiên” (1999) Lê Thị Xoa. Luận văn thạc sĩ “Mức độ lĩnh hội vốn từ Tiếng việt của trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc Thái” (1998) Nguyễn Thị Sáu Luận án “Các quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trẻ em” (số liệu ngôn ngữ trẻ em 1-3 tuổi) TS-Nguyễn Huy Cẩn Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em được quan tâm trên nhiều mặt, cũng có nhiều công trình nghiên cứ về phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở cả lý luận và thực tiễn.
Các công trình này rất phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến “Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở một số trường Mầm non Huyện Yên Định, Thanh Hóa’’ 1. Cơ sở sinh lý học Ngôn ngữ là một chức năng cao cấp của não người dựa trên cấu trúc của vỏ não, đặc biệt là vùng Broca(vùng tiếng nói), vùng Vecnich nằm ở thùy thái dương. Đây là hai vùng có điều kiện lĩnh hội đầu tiên của ngôn ngữ.
Để đảm bảo cho hoạt động ngôn ngữ được thực hiện đòi hỏi phải có sự tham gia của các tế bào não từ các khối: Khối năng lượng đảm bảo trương lực và độ tỉnh táo nhất định. Khối thông tin đảm bảo việc thu nhận và xử lý thông tin. Khối điều khiển đảm bảo việc chương trình hóa, điều chỉnh kiểm tra. Các khối này liên kết chặt chẽ với nhau, cùng tham giao thực hiện hoạt động ngôn ngữ cũng như các hoạt động tâm lý khác của con người.
5 Phát triển hài hòa ngôn ngữ đòi hỏi trước hết sự toàn vẹn về giải phẫu và chức năng của các cơ quan có tham gia vào việc thực hiện và tiếp thu ngôn ngữ. Muốn nói được con người phải có bộ máy phát âm tốt và được rèn luyện đúng mức. Muốn nói được thì phải nghe xem người khác nói thế nào. Một trẻ bị điếc thì khó mà phản ứng nhanh khi nghe người khác nói.
Vì vậy, cần chú ý rèn luyện và bảo vệ thính giác cho trẻ, nhằm phát triển khả năng tinh nhạy.