CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI QUA TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mầm non PTVT là nội dung được quan tâm trong nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nói chung và trẻ 3 – 4 tuổi nói riêng, cụ thể: *Về mối quan hệ giữa phát triển vốn từ với phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ em: Trong lý thuyết dạy học ngôn ngữ của các nhà khoa học Xô Viết, Tikheeva E. đã coi tiếng mẹ đẻ là cơ sở để phát triển trí tuệ của trẻ em, là nguồn gốc để chiếm lĩnh các kho tàng kiến thức, bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu về thế giới xung quanh trẻ, dạo chơi, tham quan, kể chuyện… Bà đã từng nhắc lại nhiều lần ngôn ngữ trẻ em phải được phát triển một cách cụ thể, rằng chỉ có thông qua thế giới vật thể thì mỗi từ mới mà các em biết được mới nắm chắc trong trí tuệ non trẻ của các em.
Bà cho rằng PTVT hay phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải luôn gắn với việc phát triển nhận thức của trẻ. Nếu như trẻ phát triển bình thường thì về mặt ngôn ngữ, mỗi từ mà trẻ học được sẽ tương ứng với một biểu tượng mà trẻ đã thu nhận trước đó [38].S Vygotsky khẳng định có mối quan hệ giữa PTVT với phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ em. Ông nhấn mạnh, ngôn ngữ là công cụ tâm lý quan trọng nhất của một nền văn hóa. Hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là học tập mang tính cá thể.
Khi gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với người lớn và bạn cùng trang lứa có năng lực cao hơn; những người giúp đỡ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó con người trao đổi các giá trị xã hội, là phương tiện vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy [42]. Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ, khả năng giao tiếp, nhận thức và xã hội, Lee Yun Gyung cho rằng có một mối tương quan giữa ngôn ngữ với kĩ năng điều khiển hành động, cử chỉ; ngôn ngữ với nhận thức. Ngôn ngữ là một trong nhiều hình thức thể hiện tinh thần, là một trong những công cụ thể hiện tư duy, là yếu tố hỗ trợ sự phát triển tư duy; quá trình phát triển ngôn ngữ sẽ kéo theo sự phát triển tư duy, trí tuệ của trẻ [45].
Nghiên cứu của tác giả Paul. Morgan đã chỉ rõ một trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ngôn ngữ của trẻ là sự thiếu vốn từ trong diễn đạt cảm xúc, ý tưởng. Lỗ hổng vốn từ thường bắt đầu xảy ra với trẻ lúc 2 tuổi và điều này làm tăng nguy cơ phát triển kém về khả năng đọc sau này [57]. Tác giả Lauren Lowry nhận 5 định số lượng từ mà trẻ có sẽ quyết định khả năng giao tiếp của trẻ; trẻ biết càng nhiều từ thì sẽ càng lĩnh hội được nhiều thông tin, cơ hội tiếp xúc với môi trường xung quanh càng nhiều [52].
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Oanh khẳng định trẻ học tiếng mẹ đẻ nhờ những ấn tượng tổng quát chứ không tách bạch từng nội dung. Trẻ học nghĩa của từ và khả năng diễn đạt bằng lời nói một cách mạch lạc thông qua việc tích cực tiếp xúc với các cuốn truyện tranh, thông qua việc miêu tả đồ chơi mà trẻ thích. Bà khẳng định vai trò của giao tiếp, tạo tình huống trong giao tiếp, tương tác hàng ngày đối với PTVT cho trẻ [27]. Có thể nói rằng, những kết quả nghiên cứu trên đây của các tác giả trong và ngoài nước giúp ta nhìn thấy vốn từ và PTVT của trẻ luôn phải đặt trong mối quan hệ với sự phát triển của các thành tố khác nhau của ngôn ngữ.
* Về tốc độ phát triển vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi: Trong các nghiên cứu về tốc độ PTVT của trẻ 3 – 4 tuổi, các tác giả như Owens, Linda & Catherine, Nguyễn Huy Cẩn, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thị Phương Nga đã phân tích tốc độ PTVT của trẻ 3 – 4 tuổi như sau: Tác giả Owens cho rằng đến 3 tuổi, hầu như trẻ đều sử dụng được các câu đơn từ 3 đến 4 từ, tiếp thu khoảng 900 - 1000 từ; vốn từ tiếp nhận và vốn từ biểu đạt của trẻ được mở rộng. Đến 4 tuổi, trẻ đã thành thạo ngữ pháp cơ bản, tiếp thu khoảng 1500-1600 từ và đa dạng các loại câu hỏi [56]. Nhóm tác giả Linda & Catherine khẳng định rằng ở thời điểm 3 tuổi, trẻ đã có thể nhớ được những việc xảy ra hôm qua, lên kế hoạch cho ngày mai, phát âm đã khá hoàn thiện, trẻ có thể nhận thức được người lạ khoảng 85%, có khả năng dùng danh từ để đặt tên đồ vật, dùng tính từ để miêu tả đồ vật; khi được 4 tuổi, vốn từ của trẻ tăng lên rõ rệt, câu hỏi của trẻ về sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh phức tạp hơn, trẻ đã dần nắm được quy luật của việc dùng từ khi nào dùng “một”, khi nào dùng “những” [54]. Trong luận án của tác giả Nguyễn Huy Cẩn, “Các quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trẻ em” và luận án của tác giả Lưu Thị Lan (1997) “Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi” đã khái quát các bước phát triển ngôn ngữ của trẻ mô tả khá tỉ mỷ các hiện tượng xuất hiện ngôn ngữ tự nhiên của trẻ về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, đặc điểm sử dụng câu và các lỗi thường gặp trong lời nói của trẻ.
Theo tác giả Lưu Thị Lan thì đến 3 tuổi, trẻ có số lượng từ là 486, đến cuối 3 tuổi thì số lượng từ của trẻ tăng lên 107%; nhưng cuối 4 tuổi, số lượng từ của trẻ chỉ tăng 40,58% so với lúc đầu của 4 tuổi (khoảng 1035 từ)” [19]. Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Nga thì ngôn ngữ của trẻ 3 tuổi phát triển rất nhanh, vốn từ của trẻ tăng gấp 5 lần so với lúc 2 tuổi, trẻ có khả năng sử dụng trung bình khoảng 1000 từ, các từ sử dụng có thể phân chia một cách ước lệ như sau: 60% danh từ, 20% động từ, 10% danh từ riêng và 10% các từ loại khác nhau như tính từ, đại từ. Như vậy, tất cả các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều khẳng 6 định, tốc độ PTVT của trẻ ở giai đoạn 3 – 4 tuổi diễn ra rất nhanh. Đây chính là thời điểm quan trọng để tổ chức hoạt động thúc đẩy sự PTVT cho trẻ.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn từ của trẻ: Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi đi học, các tác giả Stephen R. I, Lưu Thị Lan đã xác định những điều kiện, yếu tố ảnh hưởng đến sự PTVT của trẻ như sau: Tác giả Stephen R. Zubrick khẳng định có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự PTVT của trẻ 3 – 4 tuổi như trình độ học vấn của người mẹ, tâm lí của người mẹ, tâm lí bất thường của trẻ, là những yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng vốn từ hiểu nghĩa và cách sử dụng của từ ở trẻ [44]. Yếu tố bản thân đứa trẻ cũng ảnh hưởng đến vốn từ của trẻ.
Theo tác giả Lưu Thị Lan quá trình học nói của trẻ diễn ra cùng với sự hoàn thiện dần của sự phát triển sinh lý và tâm lý của trẻ. Các cơ quan của cơ thể trẻ liên quan đến hoạt động nói năng như: bộ máy phát âm, khả năng nghe là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển ngôn ngữ. Nếu như bản thân đứa trẻ bị khuyết tật hay không bình thường các bộ phận trên thì trẻ sẽ không nói được hoặc nói rất khó khăn [19]. I nhận định: “trẻ học nói nhờ vào tai nghe và khả năng bắt chước của mình” [38].
Tác giả Lưu Thị Lan cũng cho rằng môi trường văn hóa – giáo dục có ảnh hưởng lớn đến vốn từ của trẻ, trình độ văn hóa của bố mẹ, vai trò của người lớn trong gia đình như ông bà hay anh chị, sự quan tâm giao tiếp ngôn ngữ của những ngƣời xung quanh đối với trẻ, môi trường sống của trẻ ở gia đình, nhà trẻ, trường mẫu giáo đều có ảnh hưởng trực tiếp tới sự PTVT của trẻ. Các cháu có số lượng từ nhiều là các cháu có đủ các điều kiện tốt nói trên [19]. Như vậy, các tác giả đều khẳng định việc xây dựng môi trường ngôn ngữ chuẩn mực, mang tính sư phạm, đặc biệt là xây dựng môi trường ngôn ngữ trong gia đình, lớp học và nhà trường là nhiệm vụ quan trọng để PTVT cho trẻ. * Về phương pháp, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo: Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm PTVT cho trẻ mẫu giáo, các tác giả đã xác định phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm phát triển vốn từ cụ thể như sau: Biện pháp giao tiếp, tương tác hằng ngày với trẻ để phát triển vốn từ: Các tác giả Penno, Wilkinson & Moore cho rằng để thúc đẩy phát triển ngôn ngữ và từ vựng, sự tương tác giữa giáo viên và trẻ em, cách trình bày và củng cố từ vựng là những yếu tố quan trọng trong việc học của trẻ em.
Giáo viên cần giải thích từ và chủ động sử dụng từ này trong suốt cả ngày trong các hoạt động khác nhau [58]. Nhóm tác giả Miller, P. A chỉ ra rằng trẻ em có thể sử dụng lời nói của mình để nói chuyện với chính mình (nói riêng hoặc tự nói), định hướng tư duy của chúng giúp giải quyết vấn đề và lên kế hoạch cho những gì chúng sẽ làm [55]. Các nhà nghiên cứu Zucker, T.
N cũng chỉ ra một trong những vấn đề tồn tại phổ biến là giáo viên thường không nói chuyện và 7 thu hút trẻ nhỏ vào trò chuyện mở rộng và phát triển ngôn ngữ của chúng, có xu hướng dành nhiều thời gian để đưa ra phương hướng và khi thảo luận về nội dung thường hỏi trẻ những câu hỏi chỉ cần một hoặc hai từ để trả lời [61]. Các tác giả ở Việt Nam như Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Thị Tươi cũng đều khẳng định vai trò của giao tiếp, tạo tình huống trong giao tiếp, tương tác hằng ngày đối với PTVT cho trẻ [11].