Thực trạng phối hợp giáo viên và phụ huynh giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

Tìm hiểu cách phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh để phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầu giáo. Phương pháp giáo dục hiệu quả cho sự phát triển toàn diện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

226
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phối hợp giáo viên phụ huynh giáo dục kỹ năng tự phục vụ

Phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Giáo dục mầm non đóng vai trò nền tảng trong quá trình hình thành nhân cách trẻ nhỏ. Trong giai đoạn 3-4 tuổi, trẻ bắt đầu phát triển khả năng tự phục vụ bản thân. Các kỹ năng này bao gồm tự ăn, tự mặc quần áo, tự vệ sinh cá nhân. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa gia đình và nhà trường giúp trẻ hình thành thói quen tốt. Phụ huynh là người thầy đầu tiên của con. Giáo viên là người có chuyên môn sư phạm. Khi hai bên thống nhất phương pháp, trẻ được giáo dục liên tục và hiệu quả. Nghiên cứu được thực hiện tại bốn trường mầm non công lập ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy mức độ phối hợp giữa hai bên còn nhiều hạn chế. Cần có giải pháp nâng cao chất lượng phối hợp để phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ.

1.1. Khái niệm kỹ năng tự phục vụ ở trẻ mẫu giáo 3 4 tuổi

Kỹ năng tự phục vụ là khả năng trẻ tự thực hiện các hoạt động chăm sóc bản thân. Trẻ 3-4 tuổi có thể học cách tự xúc ăn, tự mặc áo, tự rửa tay. Đây là giai đoạn vàng để hình thành tính tự lập. Trẻ biết tự phục vụ sẽ giảm sự phụ thuộc vào người lớn. Kỹ năng này giúp trẻ phát triển thể chất và tinh thần. Giáo viên và phụ huynh cần nhận thức đúng về tầm quan trọng của kỹ năng tự phục vụ. Việc rèn luyện cần tiến hành từ đơn giản đến phức tạp. Trẻ cần được tạo cơ hội thực hành thường xuyên trong môi trường an toàn.

1.2. Vai trò của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường

Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường tạo nên môi trường giáo dục thống nhất. Gia đình là nơi trẻ sinh hoạt hàng ngày. Nhà trường là nơi trẻ được học tập có tổ chức. Khi hai môi trường áp dụng cùng phương pháp, trẻ tiếp thu nhanh hơn. Phụ huynh cung cấp thông tin về thói quen, tính cách của trẻ. Giáo viên chia sẻ kiến thức chuyên môn và phương pháp sư phạm. Sự phối hợp tốt giúp phát hiện sớm vấn đề ở trẻ. Từ đó, cả hai bên cùng đưa ra giải pháp phù hợp. Đây là yếu tố quyết định hiệu quả giáo dục kỹ năng tự phục vụ.

II. Phân tích thực trạng phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh hiện nay

Thực trạng phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3-4 tuổi còn nhiều bất cập. Nhiều phụ huynh chưa nhận thức đầy đủ về khả năng tự phục vụ của con. Tâm lý bao bọc con quá mức khiến phụ huynh thường làm hộ trẻ. Phụ huynh cho rằng trẻ còn nhỏ, chưa thể tự làm được. Một số phụ huynh thiếu thời gian để kiên nhẫn hướng dẫn con. Giáo viên gặp khó khăn khi phụ huynh không phối hợp. Nội dung giáo dục giữa nhà trường và gia đình chưa thống nhất. Phương pháp rèn luyện kỹ năng tự phục vụ chưa đồng bộ. Các hình thức liên lạc giữa hai bên còn mang tính hình thức. Phụ huynh ít tham gia các hoạt động phối hợp do nhà trường tổ chức. Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự phối hợp chủ yếu qua sổ liên lạc điện tử. Các buổi họp phụ huynh chưa tập trung vào kỹ năng tự phục vụ. Cần thay đổi nhận thức và hành động của cả hai bên.

2.1. Hạn chế từ phía phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ

Phụ huynh gặp nhiều hạn chế trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho con. Tâm lý e ngại, sợ con làm sai là nguyên nhân phổ biến. Nhiều phụ huynh không đủ thời gian và kiên nhẫn chờ trẻ tự hoàn thành. Người lớn thường làm hộ trẻ trong mọi hoạt động. Điều kiện kinh tế gia đình cũng ảnh hưởng đến việc giáo dục trẻ. Gia đình nhiều thế hệ có quan niệm bảo vệ trẻ quá mức. Phụ huynh chưa chủ động trao đổi với giáo viên về phương pháp giáo dục. Một số phụ huynh thiếu kiến thức về tâm lý phát triển trẻ 3-4 tuổi. Sự bất đồng giữa các thành viên trong gia đình gây khó khăn cho trẻ.

2.2. Hạn chế từ phía giáo viên trong quá trình phối hợp

Giáo viên cũng gặp không ít khó khăn trong việc phối hợp với phụ huynh. Một số giáo viên chưa chủ động trong việc liên lạc với gia đình trẻ. Thời gian giáo viên dành cho việc trao đổi với phụ huynh còn hạn chế. Giáo viên chưa xây dựng được kế hoạch phối hợp cụ thể cho từng trẻ. Nội dung trao đổi thường tập trung vào học tập mà bỏ qua kỹ năng tự phục vụ. Phương pháp truyền đạt chưa thu hút sự quan tâm của phụ huynh. Giáo viên thiếu kinh nghiệm trong việc tư vấn cho gia đình. Số lượng trẻ đông khiến giáo viên khó theo dõi sát từng em. Cần nâng cao năng lực phối hợp của giáo viên mầm non.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giáo dục kỹ năng tự phục vụ

Để nâng cao hiệu quả phối hợp, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần thay đổi nhận thức của phụ huynh về khả năng tự phục vụ của trẻ. Phụ huynh cần hiểu rằng trẻ 3-4 tuổi có thể tự làm nhiều việc. Nhà trường tổ chức các buổi tập huấn cho phụ huynh về phương pháp giáo dục. Giáo viên cần chủ động liên lạc thường xuyên với gia đình trẻ. Nội dung phối hợp phải thống nhất giữa nhà trường và gia đình. Xây dựng kế hoạch phối hợp cụ thể cho từng nhóm kỹ năng. Sử dụng đa dạng hình thức liên lạc: sổ liên lạc, nhóm zalo, họp mặt trực tiếp. Giáo viên chia sẻ video, hình ảnh trẻ thực hành kỹ năng tại lớp. Phụ huynh phản hồi về tiến bộ của trẻ tại nhà. Cần có sự chỉ đạo từ ban giám hiệu nhà trường. Đánh giá định kỳ mức độ phối hợp để điều chỉnh kịp thời. Giải pháp cần phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

3.1. Nâng cao nhận thức phụ huynh về giáo dục kỹ năng tự phục vụ

Nâng cao nhận thức phụ huynh là giải pháp quan trọng hàng đầu. Nhà trường tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về phát triển kỹ năng tự lập. Phụ huynh được hướng dẫn cách tạo cơ hội cho trẻ tự phục vụ. Giáo viên tư vấn cụ thể từng trường hợp phụ huynh. Sử dụng tài liệu, video minh họa về khả năng tự phục vụ của trẻ. Phụ huynh cần thay đổi tâm lý bao bọc con quá mức. Khuyến khích phụ huynh kiên nhẫn chờ đợi trẻ hoàn thành công việc. Chia sẻ kết quả nghiên cứu về tầm quan trọng của kỹ năng tự phục vụ. Phụ huynh hiểu rằng tự phục vụ giúp trẻ phát triển toàn diện.

3.2. Xây dựng kế hoạch phối hợp cụ thể giữa nhà trường và gia đình

Kế hoạch phối hợp cụ thể là nền tảng cho sự hợp tác hiệu quả. Nhà trường xây dựng chương trình phối hợp theo từng học kỳ. Mỗi kỹ năng tự phục vụ được phân công rèn luyện tại lớp và tại nhà. Giáo viên và phụ huynh cùng thống nhất mục tiêu cho từng trẻ. Thời gian biểu phối hợp rõ ràng, phù hợp với lịch sinh hoạt. Nội dung rèn luyện từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp lứa tuổi. Có phiếu đánh giá kết quả thực hành của trẻ hàng tuần. Phụ huynh và giáo viên cùng ký nhận kết quả. Ban giám hiệu giám sát và hỗ trợ quá trình thực hiện kế hoạch.

IV. Kết luận và ứng dụng trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ

Nghiên cứu về thực trạng phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh cho thấy nhiều vấn đề cần giải quyết. Mức độ phối hợp hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3-4 tuổi. Nguyên nhân xuất phát từ cả hai phía. Phụ huynh thiếu kiến thức và kỹ năng giáo dục con. Giáo viên chưa chủ động trong việc liên lạc với gia đình. Tuy nhiên, tiềm năng cải thiện là rất lớn. Khi cả hai bên nhận thức đúng, hiệu quả giáo dục sẽ tăng lên rõ rệt. Trẻ được rèn luyện kỹ năng tự phục vụ sẽ phát triển tính tự lập. Tính tự lập là nền tảng cho sự thành công trong tương lai. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng tại các trường mầm non công lập. Cần nhân rộng mô hình phối hợp hiệu quả. Các nhà quản lý giáo dục cần quan tâm chỉ đạo vấn đề này. Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là trách nhiệm chung của gia đình và nhà trường.

4.1. Ý nghĩa của nghiên cứu đối với giáo dục mầm non

Nghiên cứu mang lại nhiều ý nghĩa cho lĩnh vực giáo dục mầm non. Kết quả giúp nhà trường hiểu rõ thực trạng phối hợp với phụ huynh. Giáo viên có cơ sở để cải thiện phương pháp liên lạc với gia đình. Phụ huynh nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong giáo dục con. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo cho các trường mầm non khác. Các nhà quản lý có thêm thông tin để xây dựng chính sách phù hợp. Ý nghĩa lớn nhất là cải thiện chất lượng giáo dục trẻ 3-4 tuổi. Trẻ được phát triển kỹ năng tự phục vụ sẽ tự tin hơn trong cuộc sống.

4.2. Hướng phát triển và áp dụng trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng rộng rãi trong thực tiễn giáo dục. Các trường mầm non công lập có thể xây dựng kế hoạch phối hợp tương tự. Giáo viên được đào tạo kỹ năng giao tiếp và tư vấn cho phụ huynh. Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc liên lạc giữa hai bên. Xây dựng bộ công cụ đánh giá mức độ phối hợp hiệu quả. Tổ chức các câu lạc bộ phụ huynh để chia sẻ kinh nghiệm. Mở rộng nghiên cứu sang các nhóm tuổi khác trong mầm non. Cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này. Hướng phát triển bền vững là xây dựng văn hóa phối hợp trong giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ thực trạng phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3 4 tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Năm 1979 nhà tâm lý học người Mỹ Urie Bronfenbrenner, đã xây dựng lý thuyết hệ sinh thái để giải thích những phẩm chất vốn có của một đứa trẻ và những ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển.

Ông tin rằng sự phát triển của một cá nhân sẽ bị tác động bởi mọi thứ xảy ra xung quanh trong môi trường sống của nó và ông đã đưa ra những ảnh hưởng của môi trường sống đối với sự phát triển của trẻ: Hệ vi mô (Microsystem) là lớp môi trường nhỏ nhất và gần với trẻ nhất từ gia đình, người chăm sóc trẻ, thầy cô giáo và bạn cùng trang lứa, trường học, khu vui chơi… Hệ tương tác (Mesosystem) là sự liên hệ, phối hợp giữa các nhân tố trong hệ vi mô, đặc biệt là mối liên hệ giữa các trải nghiệm trong gia đình và trường học. Hệ ngoại vi (Exosystem) là môi trường rộng hơn, liên quan tới cộng đồng lớn mà trẻ đang sinh sống. Hệ vĩ mô (Macrosystem) là lớp ngoài cùng bao gồm các nhân tố như: Các khuôn mẫu hành vi, niềm tin, các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc… Hệ thời gian (Chronosystem) là chu trình phát triển của cả cuộc đời cá nhân qua các sự kiện, các giai đoạn chuyển tiếp… đều có tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của trẻ. Ông cho rằng quá trình phát triển của mỗi cá nhân điều có sự tương tác với các hệ thống ở trên.

Qua đó cho thấy rằng môi trường xung quanh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là gia đình và người chăm sóc trẻ là nhân tố tác động và tạo ra ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ nhiều nhất. Vì thế việc giáo dục trẻ không chỉ có ở nhà trường, GV mà còn phải có sự chung tay, hợp tác, phối hợp cùng với gia đình để giáo dục trẻ. Xu thế xã hội hóa GDMN ở nước Nga đã thể hiện rất rõ, giữa gia đình, nhà trường MN và các lực lượng xã hội cần có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác GDMN (Nguyễn Thị Hòa, 2011). 9 Tác giả Pirchio, Tritrini, Passiatore, Taeschner (2013) cho rằng: “Công tác phối hợp giữa giáo viên mầm non và cha mẹ trẻ là một công tác quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ”.

Santiago Nieto Martí (2017) cho rằng: “Mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường không được hiểu là những ảnh hưởng riêng biệt mà là những ảnh hưởng chồng chéo”. Điều này nhấn mạnh sự liên quan của sự phối hợp và làm việc tập thể của các ông bố, bà mẹ và GV. Nhà trường và gia đình khác nhau về các loại hình và hình thức tương tác, chiến lược dạy/học, mô hình giao tiếp và tổ chức quan hệ của họ… Và chúng ta phải hiểu chúng như là sự thay đổi nguồn kích thích khác nhau của sự phát triển. Ma-ca-ren-cô cho rằng: “Để giải quyết một cách có kết quả nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội phải phối hợp hoạt động một cách chặt chẽ”.

Việc thống nhất giữa gia đình, các bậc PH cũng như nhà trường và các đoàn thể xã hội, sẽ cung cấp những điều kiện thuận lợi để tiến hành giáo dục trẻ một cách có hiệu quả. Cho nên nghĩa vụ của các bậc PH, cha mẹ trẻ là phải tích cực chủ động giúp đỡ, chung tay cùng GV để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện hơn (A. Bộ giáo dục Virginia ở Hoa Kỳ 2002 (Virginia Department of Education). Trong bối cảnh cải cách giáo dục, các gia đình có nhiều đóng góp cho giáo dục con cái của mình.

Nhưng để tối ưu hóa những đóng góp của gia đình, trước tiên các nhà giáo dục phải phát triển mối quan hệ đối tác hiệu quả giữa gia đình và nhà trường. Trong quan hệ đối tác đó đầu vào của cả gia đình và trường học đều có giá trị và trọng tâm là những gì cả PH và nhà giáo dục có thể làm để thúc đẩy việc học tập của học sinh. Sự tham gia của gia đình vào giáo dục không phải là một khái niệm mới. Trong nhiều năm, các nhà giáo dục đã đặc biệt tin tưởng vào giá trị sự tham gia của PH, và các bậc PH đã tham gia với các trường học để giúp con cái của họ học hỏi tiềm năng.

Trong chương trình HighScope (2019) của Mỹ trong mối quan hệ đối tác, thì người GV phối hợp với PH và các thành viên khác trong gia đình để thúc đẩy việc học của trẻ em. GV cung cấp thông tin về chương trình giảng dạy và học tập sớm, 10 mời các thành viên gia đình tham gia vào các hoạt động trong lớp và hội thảo PH, thảo luận về sự tiến bộ của trẻ em và chia sẻ ý tưởng để mở rộng việc học trên lớp và ở nhà. Do đó, các GV báo cáo rằng PH sẽ hiểu rõ hơn về cách con cái họ phát triển và học tập. Ngoài ra, trong chương trình HighScope trẻ được tham gia các hoạt động nhóm nhỏ và lớn, hỗ trợ dọn dẹp cùng nhau, phát triển những KN TPV, trẻ có thể tự lập tự chăm sóc bản thân mình.

Trong báo cáo gửi UNESCO của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, đã đưa ra vấn đề gia đình và nhà trường phối hợp nâng cao thành tích học tập của học sinh ở Philippine. Một thí nghiệm đầu tiên về chương trình giáo dục mới này ở một tập thể ở tỉnh Leyte và một khu dân ở thành phố Quezon, Metro Manila. Chương trình có tính đổi mới công nhận cha mẹ là những người thầy giáo của con cái mình và cần tăng cường sự hợp tác của họ với những nhà giáo chuyên nghiệp. Chương trình này được nhóm cha mẹ và GV chỉ đạo ở tất cả các trường học.

GV và hiệu trưởng được trang bị những KN quản lí như xây dựng cơ cấu hợp tác có hiệu quả, cách thức cùng người khác đưa ra quyết định cũng như KN trao đổi giữa GV và cha mẹ, và giữa GV với học sinh. Tại các cuộc thảo luận, các bậc cha mẹ được tư vấn về cách thức giáo dục con mình và có một cuộc hội thảo có sự tham gia của cha mẹ và con cái. Các bậc cha mẹ đã bị lôi cuốn vào các quá trình dạy học. GV hướng dẫn các bậc cha mẹ giúp con mình làm những bài tập về nhà/ở trường.

Cha mẹ còn giúp GV điều khiển các lớp học, nhà trường yêu cầu cha mẹ quan sát hành vi của con mình trong lớp học cũng như các phương pháp dạy học. Những nhận xét và gợi ý của cha mẹ được đưa ra thảo luận tại các cuộc họp giữa GV và cha mẹ học sinh, qua đó những biện pháp cụ thể được mọi người thông qua. Và sau khi áp dụng chương trình này dựa vào thành tích học tập và việc giảm được một số lượng lớn học sinh bỏ học, chương trình sau đó được áp dụng ở tất cả mọi nơi khác trên đất nước Philippin và chúng đạt được những kết quả tốt (Jacques Delors, 2002). Nhìn chung các nghiên cứu ở nước ngoài đều cho thấy tầm quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường, GV và gia đình, PH trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ.

Trong đó, cho thấy GV đóng vai trò chủ động trong hoạt động phối hợp, PH sẽ là người tích cực tham gia, chung tay hỗ trợ cùng GV để đạt được mục đích giáo dục. 11 Và điều quan trọng để cả GV và PH cùng hợp tác lâu dài, cần tạo ra mối quan hệ tốt đẹp, để cả hai tin tưởng và tích cực cùng nhau phối hợp. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Theo Luật Giáo dục Việt Nam (2005) thông tư số 07/VBHN-VPQH đã nêu rõ trách nhiệm của nhà trường là chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục. Ngược lại trách nhiệm của gia đình, cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em được học tập, rèn luyện tham gia các hoạt động của nhà trường, người lớn có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục (Quốc Hội, 2005).

Điều lệ trường MN (2015) thông tư số 04/VBHN-BGDĐT, đã nêu nhiệm vụ và quyền hạn của trường MN, trường MG, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp MG độc lập là phối hợp với gia đình, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc – giáo dục trẻ. Năm 2018 Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đưa ra chuẩn nghề nghiệp GVMN thông tư số 26/2018/TT – BGDĐT, đã nêu sự phối hợp của GVMN với cha mẹ hoặc người giám hộ trẻ em và cộng đồng để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và được thể hiện ở 3 mức độ: Đạt – khá – tốt. Trong lĩnh vực phát triển thể chất của trẻ MG 3 – 4 tuổi, chương trình GDMN (2017) cũng đã đưa ra nội dung tập trẻ làm một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt như: Làm quen cách đánh răng, lau mặt, tập rửa tay bằng xà phòng. Với kết quả mong đợi trẻ thực hiện được một số việc đơn giản với sự giúp đỡ của người lớn: Rửa tay, lau mặt, súc miệng, tháo tất, cởi quần áo… và khi thực hiện chương trình cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở GDMN với gia đình và cộng đồng để chăm sóc giáo dục trẻ tốt nhất.

Theo tác giả Phạm Thị Châu (2008) cho rằng“Gia đình là một lực lượng quan trọng góp phần tạo nên chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong trường mầm non” do đó Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên chỉ đạo giáo viên chủ động phối hợp với gia đình nhằm tạo mối quan hệ hai chiều mật thiết, chặt chẽ để thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp, xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, nhằm thực hiện mục tiêu GDMN. 12 Tác giả Trần Ngọc Tuấn (2015) trên bài báo giáo dục TP.HCM, với bài viết “Vai trò của phụ huynh” tác giả cho rằng nhà trường, xã hội và gia đình là các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân cách của trẻ. Trong đó gia đình, PH đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất đến trẻ. Do vậy trong giáo dục trẻ luôn đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình, PH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ