Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3-4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI 1. Cơ sở sinh lý của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi Ngôn ngữ là một chức năng cao cấp của não người dựa trên cấu trúc của VỎ não, đặc biệt là vùng Broca (vùng tiếng nói) vùng Vecnich nằm ở thùy thái dương nó là trung tâm của vùng tiếp thi ngôn ngữ của con người. Đây là hai vùng có điều kiện lĩnh hội đầu tiên của ngôn ngữ. Để đảm bảo cho hoạt động ngôn ngữ được thực hiện đòi hỏi phải có sự tham gia của các tế bào não từ các khối: + Khối năng lượng đảm bảo trương lực và độ tỉnh táo nhất định.
+ Khối thông tin đảm bảo việc thu nhận và xử lí thông tin. + Khốiđiều khiển đảm bảo việc chương trinh hóa, điều chỉnh kiểm tra. Các khối này liên kết chặt chẽ với nhau, cùng tham gia thực hiện hoạt dộng ngôn ngữ cũng như các các hoạt động tâm lí khác của con người. Điều này muốn nói rằng mỗi khi con người tham gia vào hoạt động ngôn ngữ (nói, viết, nghe, hiểu) thì kéo theo sự tham gia hoạt động của hàng loạt hệ thống chức năng thần kinh chứ không riêng gì trung tâm Broca và Vecsnich (Phạm Minh Hạc- Lê Khanh- Trần trọng Thủy: TLH 1.
Phát triển hài hòa ngôn ngữ đòi hỏi trước hết sự toàn vẹn về giải phẩu và chức năng các cơ quan tham gia vào việc thực hiện và tiếp thu ngôn ngữ. Muốn nói được conngười phải có bộ máy phát âm tốt và được rèn luyện đúng mức. Bộ máy pháp âm là cơ quan tạo ra sự cấu âm để phát âm. Bộ máy phát âm gồm các cơ quan hô hấp, thanhquản, khoang miệng, khoang mũi.
Muốn nói được thì phải nghe xem người khác nói như thế nào. Nếu trẻ điếc thì không thể nói được, do đó cơ quan thính giác cũng là một cơ quan rất quan trọng đóng góp lớn vào quá trình xây dựng lỹ năng ngôn ngữ. Vì vậy chú ý rèn luyện và bảo vệ thính giác cho các cháu, nhằm phát triển khả năng tinh nhạy. Điều đó có tác dụng nhất đinh đến việc học nói của các cháu.
SV: Lê Thị Nhường – K20B 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Học thuyết và hệ thống các tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại nãocho nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ liên quan đến việc phát triển hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói cung. Lĩnh hội vón từ và hệ thống ngữ pháp tiếng mẹ đẻ có cơ chế phản xạ có điều kiện do vậy các tác động cũng như các kích thích phải được lặp đi lặp lại nhiều lần để tạo nên những đường liên kết thần kinh tạm thời trên vỡ não. Trẻ mẫu giáo cơ thể phát triển chậm hơn so với giai đoạn trước. Chiều cao trung bình hằng năm tăng từ 4-5 cm, cân nặng tăng khoảng 1 – 1,5 kg.
Bên cạnh đó, có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng thể chất: - Hệ tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa được tăng cường, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn. - Hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình phản ứng ở võ não phát triển, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn. - Hệ xương hoàn thiện dần, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan điều khiển vận động được tăng cường. Trẻ có thể hoạt động nhờ sự khéo léo của tay, chân, than… - Cơ quan phát âm của trẻ đang dần được hoàn thiện: thanh quản gồm các sụn phổi, sụn nhẵn và sụn thanh nhiệt.
Bên trong thannh quản có lót một lớp niêm mạc, trên bề mặt lớp niêm mạc ở mỗi een có hai nếp gấp, đó là các dây thanh âm, giữa hai bên thanh âm có một cái rãnh lõm xuống gọi là buồng dây thanh quản. Dây thannh âm ở dưới gọi là dây nói, dây thanh âm ở trên gọi là dây thở. - Trẻ 3-4 tuổi dây thanh quản ngắn nên có giọng nói cao hơn giọng nói của người lớn. Các khoang cộng hưởng phần trên của thanh quản, họng, khoang miệng, mũi khá hoàn thiện, thuận lợi cho trẻ phát âm.
Dựa trên những đặc điểm đã nêu ở trên, có thể thấy trẻ 3-4 tuổi phát triển rất mạnh nhưng vẫn còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện đặc biệt là bộ máy phát âm. Do đó cần lựa chọn những hình thức và biện pháp phát triển vốn từ cho phù hợp với trẻ để trẻ có thể phát triển một cách tốt nhất SV: Lê Thị Nhường – K20B 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan 1. Cơ sở tâm lý Ngôn ngữ là một quá trình tâm lí là đối tượng nghiên cứu tâm lí học. Ngôn ngữ đặc trưng cho từng người và được biểu hiện ở cách phát âm, ở cấu trúc âm, ở lựa chọn từ.
Ngôn ngữ phản ánh trình độ nhận thức, tính cách kỹ năng ngôn ngữ của mỗi người. Bởi lẽ sự phát triển ngôn ngữ luôn gắn chặt với các quá trình tâm lí, với nhận thức, với những cảm giác, với tri giác ban đầu của trẻ. Đúng như nhà giáo dục Nga E. Tikheevađã nói “Cảm giác, tri giác đó là hai bậc thang đầu tiên của nhận thức còn ngôn ngữ dựa vào cơ sở của các khái niệm của cảm giác”.
Các giác quan là công cụ của nhận thức. Trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ các giác quan đóng vai trò quan trọng bậc nhất, bởi tri giác vật thể là hoạt động trí tuệ trẻ em mà sự phát triển của ngôn ngữ và cảm giác của trẻ có liên quan chặt chẽ với nhau. Ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ phản ánh các sự vật hiện tượng tri giác được một cách chính xác và đầy đủ hơn so với tuổi nhà trẻ. Vì vậy vai trò chỉ dẫn của cô giáo trong việc tổ chức tri giác cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Tri giác của trẻ phát triển và có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển chung của trẻ. Không tri giác không thể hình thành được các biểu tượng về các sự vật hiện tượng, không hình thành được trí nhớ tư duy, tưởng tượng đồng thời sự phát triển của tri giác càng có ý nghĩa to lớn trong việc mở rộng và phát triển vốn từ cho trẻ. Vì vậy không thể tách rời giáo dục ngôn ngữ với giáo dục cảm giác và tri giác cho trẻ nhỏ. Các quá trình tâm lí như chú ý, ghi nhớ, tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển ngôn ngữ trong đó sự phát triển vốn từ của trẻ nhỏ.
Ở mầm non lứa tuổi mẫu giáo chú ý mang tính không chủ đinh không bền vững và ngắn hạn. Vì vậy trẻ không thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhận biết trong một thời gian dài hay đồng thời cùng chú ý đến vài đối tượng. Tuy nhiên thực tiễn dạy học lại cho thấy việc dùng lời nói của người lớm cùng với minh họa đồ vật hành động sẽ giúp trẻ tập trung chú ý hơn vào ngôn ngữ cũng như đối tượng nhờ vậy hiệu quả nắm vốn từ của trẻ sẽ cao hơn. Trí nhớ là sự phảnánh cái đã có trong kinh nghiệm cũ, trí nhớ bao gồm sự SV: Lê Thị Nhường – K20B 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo lại trong óc những điều mà conngười trải nghiệm trước đó và gắn với hoạt động cụ thể.
Trí nhớ là một trong những thành phần cấu trúc trí tuệ một trong những bộ phận của chức năng tâm lí người. Sản phẩm của quá trình trí nhớ là các biểu tượng. Biểu tượng cuả trí nhớ chính là kết quả của quá trình lĩnh hội, chế biến, sàng lọc, và khái quát hóa các hình ảnh của tri giác trước đây. Biểu tượng của trí nhớ phản ánh sự vật một cách khái quát hơn hình ảnh.
Biểu tượng phản ánh những dấu hiệu chung của sự vật hiện tượng. Biểu tượng vừa mang tính khách quan vừa mang tính khái quát hóa. Những biểu tượng do trí nhớ giữ lại trong đầu là cơ sở hình thành những chức năng tâm lí cao cấp của con người. Nếu không có trí nhớ con người không giữ được ý thức bản ngã tức là cái tôi.
Do đó, có thể mất cả nhân cách, nếu không có trí nhớ thì những ý nghĩ, tình cảm, tư tưởng của con người không thể tồn tại. Khôngcó trí nhớ thì trẻ cũng không có biểu tượng về sự vật, hiện tượng mà trẻ tri giác, cũng không nhớ được vốn từ biểu thị nó. Ở trẻ em lứa tuổi mầm non được đặc trưng bởi trí nhớ ngắn và không bền vững, không chủ định trẻ không thể cùng một lúc chú ý đến nhiều đối tượng và rất khó điều khiển trí nhớ của mình. Vì vậy trong quá trình dạy trẻ cần có các biện pháp tác động sư phạm nhằm phát triển trí nhớ cho trẻ điều đó góp phần nâng cao hiệu quả phát triển vốn từ cho trẻ.
Ngôn ngữ vừa là hệ thống kí hiệu và mỗi từ ngữ đều chứa đựng một ý nghĩa nhất định về sự vật, hiện tượng- từ gắn liền với hình ảnh, biểu tượng nào đó. Trong hoạt động ngôn ngữ cùng với việc nhớ lại các sự kiện, biểu tượng con người nhớ lại từ gắn liền với những biểu tượng, với cách sử dụng từ và cách thức diễn đạt ý nghĩa bằng hệ thống từ ngữ. Trí nhớ ngôn ngữ là khả năng sử dụng hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, các quy tắc ngôn ngữ để chúng ta giữ lại và truyền đạt lại những tri thức và kinh nghiệm lịch sử xã hội từ thế hệ nàysang thế hệ khác, giúp cho sự phát triển và hình thành nhân cách. Khi trẻ mẫu giáo đã biết và nhớ tên gọi của sự vật trẻ có thể khái quátnhững đặc điểm đặc trưng, phân loại chúng.
Nhờ đó mà ghi nhớ của trẻ tăng nhanh. Nếu trẻ suy nghĩ về một sự vật, hiện tượng nào đó thì biểu tượng đósẽ SV: Lê Thị Nhường – K20B 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan được trẻ lưu lại sâu sắc hơn, đồng thời mang tính khái quát hơn đặc biệt là trí nhớ về từ ngữ vì thế trẻ nhớ được nhiều từ và nhớ được những câu đơn giản trẻ ghi nhớ lại rất tốt những gì mà trẻ thích thú và gây cho trẻ những ấn tượng mạnh mẽ.