CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cơ bản về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm về văn hóa Văn hóa là khái niệm đa nghĩa bởi góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau trên nhiều lĩnh vực. Do đó, khi nghiên cứu một vấn đề có liên quan đến văn hóa người ta thường phải hiểu rõ nghĩa của thuật ngữ này.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa ở phương Tây, khái niệm văn hóa có nguồn gốc từ tiếng Latinh. Dần dần, khái niệm văn hóa được sử dụng ngày càng phổ biến để chỉ trình độ học vấn, học thức, phép lịch sự. Rồi do nhu cầu phản ánh các hoạt động xã hội, khái niệm văn hóa được mở rộng trên các lĩnh vực của đời sống. Trong quan niệm Macxit, văn hóa là những vấn đề biến đổi của bản thân con người, là yếu tố hình thành nên lịch sử của con người.
Văn hóa gắn liền với sản xuất xã hội. Theo nghĩa đó, văn hóa là một hình thái ý thức xã hội gắn liền với các hoạt động nhiều mặt của con người. Nguồn gốc của mọi hiện tượng, mọi quan hệ văn hóa đều gắn với các hoạt động sống của con người. Văn hóa được biểu thị như phương thức hoạt động của con người, bao chứa toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người.
Trong lĩnh vực khoa học, “ văn hóa” luôn là một chủ đề nghiên cứu của nhiều ngành nghề, đối tượng, chuyên môn khác nhau. Từ đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, phản ánh cách nhìn và cách tiếp cận đa dạng phong phú từ nhiều góc độ. Có thể rút ra một số kết luận sau về “văn hóa”: - Văn hóa là một phạm trù có vai trò quan trọng và tác động rất lớn đến mọi lĩnh vực đời sống của con người. Chính vì vậy, nó luôn là đối tượng được con người nghiên cứu và nghiên cứu vai trò, biện pháp gây ảnh hưởng của nó đến hành vi và sự phát triển của con người có ý nghĩa rất lớn trong việc cải thiện cuộc sống con người.
4 - Tuy nhiên, dù cách nhìn có khác nhau đến đâu, vẫn có thể nhận thấy rằng: văn hóa luôn được thể hiện và có thể nhận diện thông qua những dấu hiệu rất đặc trưng – biểu trưng về bản sắc văn hóa nhất định. Như vậy theo nghĩa rộng văn hóa được hiểu là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần của hoạt động của con người trong các quan hệ với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội được lưu giữ, truyền thụ, tiếp biến từ thế hệ này sang thế hệ khác nhằm duy trì phát triển cuộc sống của cộng đồng, hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Từ những hoạt động của con người trong các mối quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội đã hình thành nên một lối sống, một cách thức ứng xử, một thái độ… của con người đối với vũ trụ và đối với nhau, được biểu hiện thành những giá trị, hệ thống chuẩn mực xã hội, hình thành nên những tư tưởng và triết lý sống. Bản chất của văn hóa là tính người và tính xã hội, văn hóa là sự thể hiện trình độ phát triển hướng đến những giá trị chân, thiện, mỹ của con người.
Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp hay văn hóa công ty là một khái niệm được biết đến với các cái tên khác nhau như văn hóa tổ chức hay văn hóa kinh doanh. Là một lĩnh vực mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ qua, các định nghĩa về khái niệm này còn rất khác nhau phản ánh sự mới mẻ của vấn đề, tình trạng chưa thống nhất về cách tiếp cận, mối quan tâm, phạm vi ảnh hưởng và vận dụng ngày càng sâu rộng của những khái niệm này. “ Văn hóa” cũng được rất nhiều nhà quản lý quan tâm nghiên cứu với mục đích đưa ra kiến thức và hiểu biết về tác động và cách thức gây tác động đối với hành vi con người vào các biện pháp quản lý liên quan đến con người ở cấp độ, tổ chức, doanh nghiệp hay nhóm xã hội nhỏ hơn trong doanh nghiệp. Với góc nhìn đó, văn hóa và ảnh hưởng của nó trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà quản lý.
Môi trường đa văn hóa, sức mạnh của nhân tố, con người trong doanh nghiệp đã trở thành yếu tố quyết định sức mạnh của tổ chức, sự phát triển và tiến bộ của con 5 người, cả trong DN lẫn ngoài XH, đã trở thành trọng tâm quản lý cần được ưu tiên hàng đầu. Theo Deal và Kennedy văn hóa doanh nghiệp đơn giản là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình (Deal & Kennedy, 1988). Theo Hofstede và các cộng sự (1990), thuật ngữ văn hóa tổ chức (VHTC) đã đi vào lĩnh vực nghiên cứu hàn lâm ở Mỹ năm 1979 và vì vậy là sự xuất hiện tương đối gần đây. Theo đó, văn hóa là hệ thống giá trị được tập thể chấp nhận và công bố công khai, hoạt động trong một nhóm nhất định ở một thời điểm nhất định.
Là một trong những học giả đầu tiên đi sâu nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp, Schneider cho rằng, văn hóa doanh nghiệp là chất keo kết dính toàn bộ tổ chức lại với nhau bằng cách cung cấp sự cố kết và liên kết mạch lạc giữa từng bộ phận nhỏ của doanh nghiệp (Schneider, 1988). Theo ông, các công ty đa quốc gia ngày càng cần tìm hiểu sâu hơn về văn hóa doanh nghiệp để kiểm soát, điều phối và thống nhất các bộ phận kinh doanh/chi nhánh ở nhiều nước khác nhau. Điều khó khăn là văn hóa của mỗi chi nhánh lại gắn chặt với văn hóa quốc gia của nước sở tại, và văn hóa của các quốc gia lại khác nhau rất nhiều. Sự khác biệt này trên thực tế đã gây cản trở không ít cho việc điều hành hoạt động của các công ty đa quốc gia.
Cooke (Cooke & Lafferty, 1987), văn hóa doanh nghiệp chính là những hành vi mà các thành viên tin rằng họ cần phải phù hợp và đáp ứng mong đợi trong tổ chức của họ. Do đó, để một thành viên mới có thể làm việc hiệu quả, phát triển được trong doanh nghiệp thì thành viên đó phải tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho hài hoà với “hành vi chung” được tổ chức thừa nhận và các thành viên khác áp dụng. Gần đây, Wu (2008) còn cho rằng văn hóa tổ chức là những lựa chọn (choices) riêng lẻ được kết tinh trong một nhóm người theo thời gian. Theo đó, văn hóa tổ chức được xem như một quá trình phát triển trong đó con người của tổ chức học từ những lựa chọn lặp lại.
6 Ravasi & Schultz: văn hóa doanh nghiệp là tập hợp các giả định tinh thần được chia sẻ, cái sẽ định hướng hoạt động của doanh nghiệp bằng cách xác định các phản ứng thích hợp của doanh nghiệp trong những tình huống kinh doanh khác nhau. Ở cùng một thời điểm, một công ty có thể vừa có "văn hóa đặc trưng" tổng thể, vừa có những "tiểu văn hóa" đa dạng và thậm chí mâu thuẫn với nhau. Theo ông, văn hóa doanh nghiệp có cả những điểm ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Ravasi & Schultz, 2006). Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization - ILO): văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết.
Kotter & Heskett: văn hóa doanh nghiệp thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài (Kotter & Heskett, 1992)., Dobson & Walters: văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp (Allan. Louis: Văn hóa doanh nghiệp là sự đồng thuận về nhận thức hay ý nghĩa của tất cả các thành viên doanh nghiệp, những nhận thức, ý nghĩa này được mọi thành viên trong doanh nghiệp hiểu ngầm như nhau nhưng rất rõ ràng và khác biệt so với những doanh nghiệp khác (Louis, M.M: văn hóa doanh nghiệp thể hiện niềm tin và kỳ vọng chung của tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp. Những niềm tin, kỳ vọng này hình thành những chuẩn mực đầy quyền uy trong việc định hình hành vi của cá nhân và tập thể trong doanh nghiệp (Schwartz & David, 1981). Phạm Xuân Nam: “ Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các ý nghĩa, giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành 7 viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên.
Đỗ Minh Cương: “ Văn hóa doanh nghiệp là một dạng văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị những nhân tố VHDN tại ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên bản sắc của DN và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó Theo PGS. Dương Thị Liễu: “ Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là công cụ quản lý để xây dựng thương hiệu cho tổ chức, doanh nghiệp. Từ đó, có thể định nghĩa được VHDN từ góc độ quản lý tác nghiệp như sau: “ Văn hóa doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của tổ chức cùng chia sẻ và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”.
Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là một phần không thể thiếu trong quá trình quản lý điều hành, cho dù đó là quản lý điều hành một quốc gia, một xã hội, một doanh nghiệp hay một cơ quan … Người ta không thể quản lý điều hành tốt mà không có nền văn hóa doanh nghiệp. Về mặt khoa học quản trị, việc quản trị một doanh nghiệp hay quản trị một quốc gia đều có những nét tương đồng Người ta thường áp dụng “pháp luật” và “văn hóa xã hội” như những công cụ quan trọng để quản lý một quốc gia. Chính vì vậy, người ta có thể dùng “quy chế” và “văn hóa doanh nghiệp” để quản lý một doanh nghiệp”.