Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đã làm thay đổi căn bản phương thức xuất bản, lưu trữ và phổ biến tri thức trong hoạt động thông tin – thư viện. Tại Việt Nam, vốn tài liệu truyền thống trong các thư viện lớn đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng do điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nguy cơ xuống cấp vật lý của các ấn phẩm cổ, quý hiếm cùng với sự gia tăng nhu cầu tiếp cận từ xa của người dùng tin. Trong bối cảnh đó, số hóa và phát triển nguồn tài nguyên số trở thành xu thế tất yếu nhằm vừa bảo toàn lâu dài bản gốc của di sản thư tịch dân tộc, vừa mở rộng diện phục vụ bạn đọc mà không bị rào cản bởi không gian và thời gian.

Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) giữ vị thế là thư viện trung tâm của mạng lưới thư viện công cộng trong cả nước, chịu trách nhiệm thu thập, lưu giữ và tàng trữ toàn bộ kho tàng xuất bản phẩm dân tộc. Dù đã đạt được những bước tiến ban đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng các bộ sưu tập số, công tác phát triển và bảo quản tài liệu số tại cơ quan này vẫn gặp nhiều khó khăn về chính sách, kinh phí, công nghệ và bản quyền. Nhằm đánh giá toàn diện thực trạng và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động, đề tài "Nghiên cứu công tác phát triển và bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam" đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan về thực trạng công tác phát triển và bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và phương hướng cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tạo lập, lưu trữ và bảo quản nguồn tài nguyên số của thư viện.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể qua 6 nội dung:

  1. Nghiên cứu nội hàm các khái niệm: "phát triển", "tài liệu số", "phát triển tài liệu số", "bảo quản tài liệu số" và các vấn đề liên quan có ý nghĩa lý luận theo hướng đề tài.
  2. Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của Thư viện Quốc gia Việt Nam.
  3. Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam.
  4. Phân tích công tác phát triển tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
  5. Khảo sát công tác bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
  6. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển và bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác phát triển và bảo quản tài liệu số. Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (tập trung khảo sát các dữ liệu và số liệu thực tế đến giai đoạn 2010 - 2011).

Về tình hình nghiên cứu liên quan, tác giả đã điểm qua 8 công trình khóa luận tốt nghiệp tiền nhiệm nghiên cứu các khía cạnh khác nhau tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, bao gồm:

  • Luận văn về hoạt động tra cứu thông tin (Nguyễn Thị Hoài Thu, 2001);
  • Công tác bảo quản vốn tài liệu truyền thống (Ngô Thị Hằng Nga, 2004);
  • Công tác phát triển vốn tài liệu (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2006);
  • Số hóa và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số (Phạm Vũ Thủy Tiên, 2006);
  • Công tác tổ chức và bảo quản vốn tài liệu quý hiếm (Nguyễn Thị Bình, 2008);
  • Số hóa và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số (Lê Thị Thúy, 2010);
  • Công tác số hóa tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (Lại Cao Bằng, 2011);
  • Phát triển và chia sẻ tài nguyên số giữa Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Quốc gia Việt Nam (Mai Thị Hương, 2011).

Tác giả khẳng định đề tài đi sâu nghiên cứu tích hợp cả hai khâu phát triển và bảo quản tài liệu số tại TVQGVN một cách toàn diện, không trùng lặp với các công bố trước đó.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được thiết lập dựa trên hệ thống khái niệm chuyên ngành thông tin - thư viện và các văn bản pháp lý hiện hành:

  • Khái niệm phát triển: Tiếp cận dưới góc độ phép biện chứng duy vật (quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn) và định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2006).
  • Khái niệm tài liệu và tài liệu số: Trích xuất từ gốc Latinh "Docure"; Tiêu chuẩn quốc gia Nga GOST 16487-70 và GOST R 51141-98; Tiêu chuẩn quốc tế ISO 5127-1; Giáo trình của Phạm Văn Rính – Nguyễn Viết Nghĩa; Bài giảng Thông tin học đại cương của PGS. Trần Thị Quý; và giải nghĩa của Mindwrap. Khóa luận thống nhất quan điểm tài liệu điện tử và tài liệu số đồng nhất về mặt ngữ nghĩa trong ngữ cảnh thư viện hiện đại, bao gồm cả tài liệu sinh ra ở dạng số (born digital) và tài liệu chuyển đổi dạng số (reformatted digital content).
  • Khái niệm phát triển và bảo quản tài liệu số: Phát triển tài liệu số là quá trình lựa chọn, bổ sung làm gia tăng cả về số lượng và chất lượng nguồn tin số theo chính sách nhất định. Bảo quản tài liệu số (Digital preservation) được diễn giải theo định nghĩa của Hiệp hội lưu trữ New Zealand và Hiệp hội bảo quản số Anh Quốc, xác định đây là tổng thể chính sách, chiến lược và hành động kỹ thuật nhằm bảo đảm việc truy cập thông tin liên tục, chống lại sự xuống cấp của vật mang tin và sự đào thải công nghệ phần cứng, phần mềm.
  • Khung pháp lý và quản trị: Quyết định số 579/TC-QĐ ngày 17/03/1997 và Quyết định số 81/2004/QĐ-BVHTT ngày 24/08/2004 của Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Pháp lệnh Thư viện (Điều 5 khoản 1); cùng Luật Xuất bản về chế độ lưu chiểu văn hóa phẩm và nộp luận án tiến sĩ.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu khoa học, văn bản hành chính;
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Triển khai phát phiếu khảo sát tới cán bộ thư viện tại TVQGVN (phát ra 120 phiếu, thu về 100 phiếu hợp lệ) và điều tra người dùng tin tại các phòng phục vụ;
  • Phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản trị và chuyên trách công nghệ thông tin (TS. Lê Văn Viết - Phó Giám đốc TVQGVN; Th.S Lê Đức Thắng - Phó Trưởng phòng Tin học);
  • Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu số liệu và phương pháp diễn dịch, quy nạp.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê nội bộ các phòng ban của TVQGVN đến năm 2010 - 2011, các số liệu dự án số hóa từ Vụ Thư viện (thông tin do Vụ trưởng Nguyễn Thị Thanh Mai cung cấp) cùng dữ liệu điều tra thực nghiệm bằng phiếu hỏi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về công tác phát triển và bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tài liệu số, chỉ rõ các lợi ích cốt lõi: tối ưu hóa không gian kho tàng, phục vụ đa truy cập đồng thời, bảo vệ bản gốc quý hiếm, mở rộng diện phục vụ xã hội và tăng cường năng lực chia sẻ tài nguyên. Tác giả phân tích 5 nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động phát triển và bảo quản tài liệu số:

  1. Chính sách phát triển: Cơ sở pháp lý và định hướng chuyên môn để lựa chọn diện chủ đề, loại hình tài liệu số hóa và quy trình mua quyền truy cập.
  2. Kinh phí: Yếu tố sống còn quyết định tính liên tục của trang thiết bị, bản quyền và dây chuyền số hóa.
  3. Nguồn nhân lực: Sự chuyển dịch vai trò của cán bộ thư viện từ người "giữ sách" sang chuyên gia thông tin, tổ chức và biên mục dữ liệu số (metadata), quản trị mạng và bảo vệ bản quyền số.
  4. Hợp tác chia sẻ: Giải pháp khắc phục tình trạng thiếu hụt kinh phí, tránh trùng lặp tài liệu số hóa giữa các cơ quan thông tin thư viện.
  5. Hạ tầng cơ sở và trang thiết bị: Hệ thống mạng Intranet/Internet, máy chủ lưu trữ chuyên dụng, cổng tra cứu OPAC và phần mềm quản lý tài liệu số (như Greenstone và các phần mềm thương mại đáp ứng chuẩn nghiệp vụ quốc tế).

Về đơn vị khảo sát, chương 1 tóm lược lịch sử TVQGVN: Tiền thân là Thư viện Trung ương Đông Dương thành lập ngày 29/11/1917, chính thức phục vụ từ ngày 01/09/1919; năm 1922 ban hành chế độ lưu chiểu Đông Dương; năm 1935 đổi tên thành Thư viện Pierre Pasquier; ngày 20/10/1945 đổi tên thành Quốc gia Thư viện; sáp nhập vào Nha Giám đốc Đại học vụ thành Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc; năm 1955 chuyển giao cho Bộ Tuyên truyền; ngày 21/11/1958 Bộ Văn hóa ra nghị định tách thành Thư viện Quốc gia trực thuộc Bộ. Về đối ngoại, thư viện là thành viên của IFLA, CONSAL và chương trình bảo quản PAC.

Cơ cấu tổ chức của TVQGVN gồm 13 phòng ban với 173 cán bộ, viên chức và người lao động. Về trình độ: 1 tiến sĩ, 16 thạc sĩ, 124 cử nhân chuyên ngành thông tin - thư viện (chiếm tỷ lệ 72%) và các ngành khác. Người dùng tin tại thư viện được phân chia thành 3 nhóm:

  • Nhóm 1: Cán bộ quản lý, lãnh đạo (số lượng ít, yêu cầu thông tin mang tính chiến lược, vĩ mô, độ chính xác và bảo mật cao).
  • Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, chuyên môn (nhu cầu tài liệu chuyên sâu, tài liệu quý hiếm, tài liệu xám và tài liệu số hóa).
  • Nhóm 3: Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên (chiếm tỷ lệ đông nhất, nhu cầu khai thác tài liệu chuyên ngành, luận văn, luận án phục vụ học tập và nghiên cứu).

Chương 2: Thực trạng công tác phát triển và bảo quản nguồn tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn lực thông tin hiện có tại TVQGVN tính đến năm 2010. Vốn tài liệu truyền thống đạt quy mô lớn với hơn 1 triệu bản sách và báo chí, đóng vai trò là nguồn tài nguyên gốc cho công tác số hóa:

STT Bộ sưu tập tài liệu truyền thống Số lượng Ghi chú đặc điểm
1 Sách Việt (bao gồm cả kho Lưu chiểu) 800.800 bản Kho lưu chiểu có >200.000 tên (~300.000 bản)
2 Sách Đông Dương xuất bản trước năm 1954 67.205 bản Tư liệu lịch sử quý về Việt Nam và Đông Dương
3 Sách Pháp cổ Gần 50.000 tên Có sách xuất bản từ thế kỷ XV – XVI
4 Luận án tiến sĩ Hơn 16.000 bản Hàng năm tăng từ 700 đến 900 bản nộp mới
5 Sách tiếng Nga 270.000 bản Đa dạng các lĩnh vực khoa học
6 Sách tiếng Trung Hơn 50.000 bản Tài liệu nghiên cứu chuyên ngành
7 Sách kháng chiến chống Pháp 3.996 tên Xuất bản tại vùng giải phóng và vùng tạm chiếm
8 Sách Quỹ Châu Á 4.000 bản Nguồn tài trợ quốc tế
9 Tài liệu tra cứu 4.000 bản Bách khoa toàn thư, từ điển, niên giám
10 Báo, tạp chí các ngôn ngữ Gần 9.000 tên Có 1.700 tên thuộc kho nghiên cứu (Gia Định báo, Nam Phong, Đông Dương...)
11 Microfilm, Microfiche Hơn 12.000 tên Gồm 10.000 tên sách Pháp trao tặng và gần 2.000 sách Hán Nôm

Nguồn tài liệu số hóa toàn văn tự xây dựng của thư viện đạt được quy mô đáng kể:

STT Bộ sưu tập tài liệu số hóa tự xây dựng Số lượng bản Số lượng trang Phương thức truy cập / Ghi chú
1 Luận án Tiến sĩ 15.000 bản - Đã số hóa 15.571 bản đến 12/2010; phục vụ >2.000 bản
2 Thăng Long Hà Nội 1000 năm văn hiến 850 cuốn 407.970 trang Trực tuyến và trong mạng LAN
3 Sách Đông Dương (Dự án VALEASE) 829 cuốn 130.542 trang Hợp tác Pháp; trực tuyến miễn phí tại dlib.vn
4 Sách Hán Nôm >220.293 bản - Phối hợp Hội Di sản Hán Nôm; truy cập nom.vn
5 Sách tiếng Anh viết về Việt Nam (CONSAL/COCI) 338 cuốn 92.520 trang Chia sẻ khu vực Đông Nam Á
6 Bộ sưu tập Tuồng, Cải lương 90 cuốn 4.818 trang Số hóa kịch bản, ấn phẩm sân khấu truyền thống
7 Băng, đĩa CD-ROM, DVD, VCD 3.068 tên - Thu nhận qua lưu chiểu, trao đổi, biếu tặng

Các bộ sưu tập số chuyên đề khác gồm: Kỹ thuật của người An Nam (700 tranh khắc gỗ, hơn 4.000 hình ảnh); Tri Tân Tạp chí (212 số, 1941 - 1945); Nam Phong Tạp chí (6 đĩa DVD, 210 số, 1917 - 1934); Sắc phong tỉnh Hưng Yên (4 đĩa DVD, hơn 450 sắc phong).

Nguồn tài liệu số ngoại sinh (mua quyền truy cập hoặc tài trợ):

  • CSDL ProQuest: Hơn 30.000 hồ sơ doanh nghiệp, hơn 3.400 tạp chí toàn văn, 479 báo toàn văn, báo cáo EIU/OxResearch của 252 quốc gia, bao quát 160 chuyên ngành nhưng chưa hỗ trợ giao diện tiếng Việt.
  • CSDL Keesings: Bổ sung từ năm 2009, hơn 95.000 bài báo tổng hợp sự kiện thế giới từ năm 1931 đến nay, phục vụ tại phòng Đa phương tiện.
  • CSDL Wilson Omnifile Full Text: Mua năm 2007 trên đĩa CD-ROM, cài đặt cục bộ qua máy chủ mạng LAN phòng Đa phương tiện, bao quát 10 chủ đề khoa học.
  • CSDL AGORA: Tiếp cận từ năm 2005 do FAO tài trợ, cung cấp 1.278 tạp chí nông nghiệp, thực phẩm, môi trường.
  • Các CSDL khác: Tạp chí khoa học Việt Nam trực tuyến (VJOL), CSDL sách Châu Âu, CSDL Luật Việt Nam (từ 1945 đến nay).

Về công tác phát triển, nguồn tài liệu nhập về TVQGVN chủ yếu dựa vào chế độ nộp lưu chiểu (chiếm 89,1%), phương thức trao đổi và biếu tặng chiếm 10,9%. Thư viện chưa ban hành văn bản chính sách phát triển tài liệu số mang tính chiến lược dài hạn; việc số hóa diễn ra theo thực tế ngân sách cấp từng năm, ưu tiên xử lý tài liệu quý hiếm có nguy cơ hủy hoại trước và tài liệu có nhu cầu bạn đọc cao (luận án tiến sĩ).

Về kinh phí, năm 2011 thư viện thực hiện dự án số hóa với kinh phí hơn 20 tỷ đồng, kinh phí cấp cho vốn tài liệu hơn 1.000 đầu sách khoảng 11 tỷ đồng nhưng thường xuyên bị cắt giảm. Khảo sát 100 cán bộ thư viện ghi nhận 100% ý kiến khẳng định kinh phí nhà nước cấp cho phát triển tài liệu số là "Chưa đủ".

Về bảo quản tài liệu số, thư viện đối mặt với nguyên nhân hủy hoại do khí hậu, lỗi thiết bị sao lưu, sự thay đổi chuẩn định dạng và nguy cơ mất an toàn hệ thống. Công tác bảo quản số mới ở giai đoạn lưu trữ sao lưu dữ liệu trên hệ thống máy chủ và ổ cứng, chưa có quy trình chuyển đổi định dạng (migration) hay mô phỏng (emulation) chuyên nghiệp dài hạn.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phát triển và bảo quản nguồn tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam

Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính nghiệp vụ và quản lý:

  1. Nhóm giải pháp về nội dung: Chú trọng bổ sung tài liệu số hóa toàn văn theo diện ưu tiên rõ ràng; nâng cao chất lượng biên mục siêu dữ liệu và chất lượng hình ảnh quét; đa dạng hóa sản phẩm - dịch vụ thông tin số; giải quyết triệt để rào cản bản quyền số theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ; thiết lập giải pháp an toàn và bảo mật dữ liệu số.
  2. Nhóm giải pháp về công nghệ: Nâng cấp hạ tầng mạng máy tính, tăng cường băng thông Internet; trang bị máy chủ dung lượng lớn, hệ thống lưu trữ dự phòng chuyên nghiệp; hoàn thiện và đồng bộ hóa phần mềm quản lý tài liệu số có khả năng quản lý đa dạng định dạng (văn bản, âm thanh, video, GIS) và hỗ trợ phân quyền truy cập nghiêm ngặt.
  3. Nhóm giải pháp phát huy nhân tố con người: Đổi mới tư duy quản lý của lãnh đạo thư viện; nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ kỹ thuật viên tin học; đào tạo lại kỹ năng số hóa và mô tả dữ liệu số cho cán bộ nghiệp vụ; tổ chức các chương trình hướng dẫn kiến thức thông tin nhằm giúp người dùng tin khai thác hiệu quả tài liệu số.
  4. Nhóm giải pháp khác: Tăng cường ngân sách nhà nước và tìm kiếm nguồn tài trợ quốc tế; tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề về số hóa và bảo quản số; mở rộng liên kết chia sẻ tài nguyên số với các thư viện đại học và chuyên ngành; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá bộ sưu tập số tới công chúng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố hệ thống số liệu cụ thể về hiện trạng tài nguyên thông tin tại TVQGVN tính đến năm 2010 - 2011, bao gồm:

  • Quy mô vốn tài liệu truyền thống với hơn 800.800 bản sách tiếng Việt, gần 50.000 tên sách Pháp, hơn 16.000 luận án tiến sĩ và gần 9.000 tên báo - tạp chí;
  • Thống kê chi tiết các bộ sưu tập số hóa tự xây dựng: 15.571 luận án tiến sĩ; 850 cuốn (407.970 trang) tư liệu Thăng Long - Hà Nội; 829 cuốn (130.542 trang) sách Đông Dương; hơn 220.293 bản sách Hán Nôm; 338 cuốn (92.520 trang) sách tiếng Anh về Việt Nam; 90 cuốn (4.818 trang) tuồng, cải lương;
  • Xác định tỷ trọng bổ sung thực tế: Lưu chiểu chiếm 89,1%, trao đổi và biếu tặng chiếm 10,9%;
  • Kết quả điều tra thực nghiệm: 100% cán bộ được hỏi (100/100 phiếu) đánh giá ngân sách nhà nước cấp cho phát triển tài liệu số chưa đáp ứng đủ nhu cầu.

Về mặt đóng góp, công trình đã:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận chuyên ngành về số hóa, phát triển và bảo quản tài liệu số trong bối cảnh các thư viện quốc gia tại các nước đang phát triển;
  • Cung cấp bức tranh thực tiễn chi tiết, khách quan về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa tại Thư viện Quốc gia Việt Nam giai đoạn đầu chuyển đổi số;
  • Đề xuất hệ thống giải pháp 4 nhóm đồng bộ, bám sát các điểm nghẽn thực tế về ngân sách, quy chế bản quyền và công nghệ quản trị tài liệu số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu thực tế được tác giả nêu ra:

  • Nguồn lực nghiên cứu tập trung đơn lẻ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, chưa tiến hành so sánh đối sánh mô hình với các thư viện quốc gia trong khu vực Đông Nam Á;
  • Dữ liệu khảo sát công tác bảo quản số chỉ dừng lại ở các giải pháp sao lưu vật lý cơ bản, chưa đi sâu thực nghiệm các kỹ thuật bảo quản số dài hạn chuyên sâu như mô phỏng hệ thống (emulation) hay làm mới dữ liệu (refreshing);
  • Việc phân tích các CSDL ngoại văn bị giới hạn do một số nguồn chỉ được phép truy cập cục bộ trong mạng LAN tại phòng Đa phương tiện.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài bao gồm: Nghiên cứu xây dựng mô hình liên hiệp chia sẻ tài nguyên số dùng chung giữa TVQGVN và hệ thống thư viện đại học, viện nghiên cứu; xây dựng quy chế pháp lý chi tiết về việc nộp lưu chiểu xuất bản phẩm điện tử bắt buộc; và nghiên cứu triển khai hệ thống bảo quản số dài hạn theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Thông tin – Thư viện, Quản trị thông tin khi nghiên cứu về tổ chức vốn tài liệu số, nghiệp vụ số hóa và thư viện số;
  • Cán bộ quản lý thư viện và nhân viên kỹ thuật tại các thư viện công cộng, thư viện chuyên ngành đang triển khai các dự án số hóa vốn tài liệu địa chí, tài liệu cổ quý hiếm;
  • Những người làm nghiên cứu lịch sử thư tịch Việt Nam cần tra cứu danh mục, địa chỉ truy cập các bộ sưu tập số hóa quý hiếm như kho sách Pháp ngữ cổ (dlib.vn) hay kho di sản Hán Nôm (nom.vn).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ trọng các nguồn bổ sung tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam được thống kê như thế nào?
Theo số liệu phân tích trong khóa luận, nguồn tài liệu nhập về Thư viện Quốc gia Việt Nam chủ yếu thông qua phương thức nộp lưu chiểu xuất bản phẩm, chiếm 89,1%. Khối lượng tài liệu còn lại (chiếm 10,9%) được bổ sung thông qua các hình thức trao đổi tài liệu quốc tế và biếu tặng từ các tổ chức, cá nhân.

2. Dự án số hóa kho tài liệu Pháp ngữ cổ tại TVQGVN có quy mô ra sao và người dùng truy cập ở đâu?
Dự án có tên là VALEASE, do TVQGVN phối hợp thực hiện cùng Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam và Bộ Ngoại giao Pháp. Quy mô số hóa đạt 829 cuốn sách Đông Dương xuất bản từ trước thế kỷ XVII đến năm 1954, tương đương 130.542 trang tài liệu. Bộ sưu tập này được đưa lên mạng phục vụ miễn phí cho bạn đọc trực tuyến tại địa chỉ http://dlib.vn.

3. Khảo sát thực tế đánh giá của cán bộ thư viện về nguồn ngân sách cấp cho phát triển tài liệu số cho kết quả gì?
Trong bảng hỏi phát ra 120 phiếu và thu về 100 phiếu hợp lệ từ cán bộ TVQGVN, có 100/100 ý kiến (đạt tỷ lệ 100%) đánh giá nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho phát triển tài liệu số là "Chưa đủ". Không có cán bộ nào (0%) đánh giá mức kinh phí là "Đầy đủ" hay "Rất đầy đủ".

4. Cơ cấu trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ, viên chức tại TVQGVN ở thời điểm nghiên cứu như thế nào?
Theo thống kê tại Quyết định số 81/QĐ-BVHTT được khóa luận trích dẫn, toàn bộ máy thư viện có 173 cán bộ, viên chức và người lao động làm việc tại 13 phòng ban. Trong đó có 1 tiến sĩ, 16 thạc sĩ và 124 cử nhân chuyên ngành thông tin - thư viện (chiếm 72% tổng số lao động) cùng các cử nhân chuyên ngành khác.

5. Thư viện Quốc gia Việt Nam đang khai thác những cơ sở dữ liệu số hóa ngoại sinh có trả phí nào?
Thư viện đã bổ sung và phục vụ người dùng tin thông qua các cơ sở dữ liệu quốc tế như: ProQuest (hơn 30.000 hồ sơ doanh nghiệp, hơn 3.400 tạp chí toàn văn), Keesings (bổ sung từ 2009 với hơn 95.000 bài báo sự kiện), Wilson Omnifile Full Text (trên đĩa CD-ROM phục vụ qua mạng LAN nội bộ) và CSDL AGORA do FAO tài trợ quyền truy cập từ năm 2005.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Duyên đã phản ánh chân thực, có hệ thống thực trạng công tác phát triển và bảo quản tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam giai đoạn 2010 - 2011. Công trình làm rõ những kết quả đáng ghi nhận trong việc tự xây dựng các bộ sưu tập số hóa toàn văn di sản quý hiếm, đồng thời chỉ ra các rào cản nội tại về kinh phí, chính sách nghiệp vụ và công nghệ bảo quản dài hạn. Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu hữu ích cho việc hoàn thiện công tác quản trị tài nguyên số tại thư viện trung tâm của Việt Nam.