mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chương: CHƯƠNG!: TU VIÊN QUỐC GIA VIỆT NAM TDONC HỆ THỐNG THUỤ VIÊN CÔNG CONG CHƯƠNG 2: TIEN TRANG THUC HIEN VAI TRO TRUNG TAM CUA THU VIEN QUOC GIÁ VIỆT CHƯƠNG 3: NHŨNG GIẢI PHÁ TĂNG CUONG VA NANG CAO VAI TRO TRUNG TAM CUA TU VIÊN QUOC GIA VIỆT NAM CHUONG 1. THU VIEN QUOC GIA VIET NAM TRONG HE THONG THU VIEN CONG CONG 1.1 Hệ thống thư cong cong 1.1 Khái niệm ví ệ thống. Quan điểm hệ thống xem xét sự vật trong sự thống nhất của toàn thể và trong các mối liên hệ tương tác của các yếu tố tạo thành từ lâu đã được khẳng định là ách tiếp cận khoa học. Đặc biệt, chỉ trong mấy thập kỷ gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của toán học, điều khiển học, công nghệ thông tin.
quan điểm đó mới được tiếp thêm sức mạnh đây tính thuyết phục và được phát triển thành khoa học hệ thống hiện dai. Khi nghiên cứu một vấn đề quản lý, từ việc nghiên cứu chiến lược kinh tế ~ xã hội cho đến giải quyết một bài toán cụ thể, quan điểm hệ thống giúp ta nhìn nhận vấn đẻ một cách chính xác và khoa học. Vậy hệ thống là gì? Từ trước tới nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về hệ thống. Hệ thống là một tập hợp nhiều phần tử có những mối ràng buộc lẫn nhau để cùng thực hiện một mục tiêu nhất định nào đó.
Quan điểm hệ thống là cách nhìn thực tế phức tạp, xem sự vật như một tổng thể bao gồm nhiều phần tử như người, phương tiện, phương pháp. Giữa các phần tử có ràng buộc lẫn nhau [19, tr. Hệ thống là tập hợp các yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất [29, tr. Hệ thống còn là tập hợp những tư tưởng, những nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách logic làm thành một thể thống nhất [29, tr.
Vi du: lệ thống tư tưởng chính trị, hệ thống ngân hàng, hệ thống đường. giao thông, hệ thống sông ngồi. 10 Trong một hệ thống, mỗi một thành phân có thể có những chức năng khác nhau nhưng khi kết hợp lại chúng có những chức năng đặc biệt. Như vậy, hệ thống là một tập hợp những yếu tố, những bộ phận có mối liên hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau và tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
Theo quan điểm triết học thì khái niệm hệ thống ra đời từ rất sớm. từ thời cổ đại Arixtôt đã khẳng định rằng toàn thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó. Phái Xtôia thì giải thích hệ thống như là một trật tự thế giới. tưởng đó về sau được Kantơ và Hêghen phát triển lên.
Chủ nghĩa Mác đã trình bày những nguyên tắc nhận thức khoa học đối với các hệ thống phát triển hoàn chỉnh. Theo quan điểm của khoa học hiện đại thì bất kỳ khách thể nào trong thế giới hiện thực cũng là một hệ thống, nghĩa là bao gồm các bộ phận, những yếu tố cấu thành có quan hệ nội tại với nhau. Đặc trưng cơ bản của hệ thống bao gồm : 1. Mỗi hệ thống gắn liền với một hệ thống tổ chức nhất định.
Tính tổ chức ấy thể hiện ở cấu trúc thứ bậc, đặc trưng cho kết cấu hình thức và phương thức hoạt động của hệ thống. Mỗi hệ thống gồm nhiều phân hệ, nhiều ‘on, nhiều yếu tố hợp thành. Mỗi phân hệ, mỗi hệ con, mỗi yếu tố ấy vừa mot yếu tố của hệ thống cao hơn, vừa là một hệ thống của những yếu tố thấp hơn. Như vậy, bất kỳ một hệ thống nào cũng có thể coi như là một yếu tố của hệ thống thuộc loại cao hơn, đồng thời các yếu tố của nó cũng có thể là một hệ thống thuộc loại thấp hơn.
Do kết quả tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố mà hệ thống với tính cách là một chỉnh thể có những thuộc tính mới, chất lượng mới, những cái vốn không có ở yếu tố và các bộ phận hợp thành hệ thống. Vì lẽ đó, người ta nói rằng chỉnh thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó. Các hệ thống hữu sinh, kỹ thuật va xã hội có khả năng tự điều chỉnh trên cơ sở thu thập, tàng trữ, chế biến và xử lý thông tin nhằm đạt đến mục đích nhất định. Đặc trưng của hệ thống không phải chỉ là các mối liên hệ và quan hệ giữa các yếu tố, các bộ phận cấu thành, mà còn là sự thống nhất với môi trường thông qua những mối quan hệ qua lại ia nó với môi trường [Â1, tr.
Theo quan điểm của các nhà thư viện học thì: Hệ thống là một tập hợp các phản tử có mối quan hệ qua lại và phụ thuộc, được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự nhất định tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Cấu trúc là mặt bất biến của hệ thống, là hình thức tổ chức của hệ thống. Các phần tử hợp thành được sắp xếp, tổ chức theo cách nào thì tạo ra một hệ thống tương ứng theo cách ấy. Cách sắp xếp, sự tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành tạo ra cho hệ thống những thuộc tính mới không thể có ở mỗi phân tử nếu nó tồn tại biệt lập được gọi là “tính chồi” [16].
Hệ thống và cấu trúc có quan hệ mật thiết với nhau và là hai mặt của thực tại. Trong nghiên cứu khoa học thư viện phải vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống - cấu trúc, nghĩa là phải xem xét các sự vật và hiện tượng với tư. cách là một bộ phận cấu thành của một hệ thống nhất định, đồng thời bản thân nó là một tiểu hệ thống với các phần tử cấu thành, vừa có quan hệ thứ bậc, vừa có mối quan hệ tương hỗ với nhau. Chẳng hạn, hệ thống thư viện công cộng có mối quan hệ thứ bậc trên là Vụ Thư viện, Thư viện Quốc gia dưới là thư viện tỉnh, thành phố, thư viện cấp quận huyện, thư viện tủ sách xã phường, trong đó chúng cũng có mối quan hệ tương hỗ với nhau.
Các phân tử trong hệ thống được hiểu là các thành phản hợp thành của nó và được hiểu theo nghĩa rất rộng: - Các phân tử có thể rất đa dạng, chẳng hạn trong hệ thần kinh thi các phần tử là bộ óc, dây thân kinh, tuỷ sống. 12 - Các phần tử của một hệ thống có thể rất đơn giản, nhưng cũng có thể rất phức tạp, thậm chí có thể là một hệ thống con. Một hệ thống được hiểu là một tập hợp các phân tử có quan hệ với nhau, hay nói cách khác là giữa chúng phải có những ràng buộc để tạo thành. Trong các quan hệ đang tồn tại chúng ta đặc biệt quan tâm đến các.
quan hệ ổn định và tồn tại lâu di chứ không quan tâm đến các quan hệ có tính chất tạm thời. Khi nói đến ổn địi „ không nhất thiết phải hiểu là bất biến; trên thực tế hầu hết các hệ thống đều có tính biến động nhưng chúng vẫn giữ sự ổn định trong tổ chức, trong quan hệ giữa các phần tử, điều này có nghĩa là bản chất của hệ thống là không thay đổi. Sự biến động của hệ thống thể hiện tren hai mat: - Sự tiến triển, tức là các thành phần của nó có thể phát sinh, có tăng trưởng, có suy thoái, có đào thải. - Sự hoạt động, có nghĩa là các phần tử của hệ thống trong những mối quan hệ tàng buộc cùng cộng tác với nhau để thực hiện mục tiêu chung nào đó.
Quá trình hoạt động của hệ thống là quá trình biến đổi cái vào thành cái ra. Chẳng hạn hệ thống thư viện công cộng đầu tư trang thiết bị, ¡ liệu, xử lý chúng để tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu câu học tập nghiên cứu của bạn đọc. Một hệ thống có thể bao gồm nhiều bộ phận, thành phân mà ta thường. gọi là hệ thống con.
Mỗi một hệ thống con đảm nhận một số tác vụ riêng biệt nào đó trong hệ thống lớn mà nó là một thành phân. Muốn có những hiểu biết sâu hơn về một hệ thống nhất định chúng ta phải tiến hành nghiên cứu một số. khái niệm liên quan đến hệ thống. Môi trường: là những con người, phương tiện, quy luật, chính sách.
bao quanh hệ thống. Một hệ thống không thể hoạt động độc lập, cho nên tìm hiểu một hệ thống không thể không quan tâm tới môi trường bao quanh hệ. 13 Giới hạn: là chu vi hay đường ranh giới giữa một hệ thống và môi trường bên ngoài. Nó cách biệt giữa các phần tử tạo nên hệ thống và thế giới bên ngoài.
Đâu vào: của hệ thống là các đối tượng từ bên ngoài tham gia vào hệ thống. Hệ thống tác động lên chúng, biến đổi chúng tạo thành các kết quả đầu ra. Không có đầu vào, hệ thống không thể có được kết quả đầu ra. Thành phân xử lý: của một hệ thống có chức năng biến đổi từ các đối tượng đầu vào thành kết quả đầu ra.
Dau ra: là các sản phẩm, là kết quả của quá trình xử lý. Việc tìm kiếm những con đường, những phương pháp và những phương tiện nghiên cứu khách thể với tính cách là một hệ thống đã dẫn tới chỗ hình thành một phương pháp mới ~ Phương pháp phân tích hệ thống. Việc áp dụng rộng rãi phương pháp này đã mang lại những hiệu quả tích cực trong thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học. Hệ thống thư viện công cộng Ở mỗi quốc gia người ta đều xây dựng một mạng lưới thư viện và cơ quan thông tin rộng khắp toàn quốc.
Trong mạng lưới đó, các hệ thống thông tin - thư viện được hình thành và hoạt động vừa có tính độc lập nhất định, vừa có sự đan xen với nhau. Các thư viện và cơ quan thong tỉn chính là những mắt xích trong các hệ thống này. Ở Việt Nam, các thư viện được hình thành từ hơn một nghìn năm nay và đã phát triển với nhiều loại hình phong phú. Ngày nay, chúng ta đã có một mạng lưới các thư viện và cơ quan thong tin rong khắp từ trung ương đến tỉnh, thành phố, quận, huyện, cơ sở cũng như ở tất các ngành nghề khác nhau.
Một trong những hệ thống thư viện chính yếu của Việt Nam, đó là hệ thống thư viện công cộng. Hệ thống thư viện công cộng là hệ thống thư viện có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp thư viện Việt Nam, là hệ thống thư. viện "xương sống”, được tổ chức theo nguyên tắc hành chính - lãnh thổ.