Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, đồng thời là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục và kinh tế của cả nước. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, hệ thống thư viện công cộng tuyến quận giữ vai trò thiết yếu trong việc nâng cao dân trí, phổ biến đường lối chính sách và đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân. Được hình thành từ thập niên 1960, mạng lưới thư viện quận tại Hà Nội đã đạt được những bước phát triển nhất định, song thực tiễn hoạt động đang bộc lộ nhiều hạn chế về mô hình tổ chức, cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương thức phục vụ trước các yêu cầu mới của xã hội. Khóa luận được thực hiện nhằm khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống thư viện quận trên địa bàn Thủ đô.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:
- Điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động của các thư viện quận trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.
- Đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, những kết quả đã đạt được và các hạn chế, tồn tại trong tổ chức và hoạt động.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thư viện quận trên địa bàn Hà Nội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác hoạt động của hệ thống thư viện quận.
- Phạm vi không gian: Hệ thống các thư viện quận trên địa bàn Thủ đô Hà Nội; trong đó tập trung khảo sát sâu tại 5 thư viện quận đại diện cho các mức độ phát triển khác nhau: Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hoàn Kiếm và Long Biên.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng tại thời điểm thực hiện đề tài, sử dụng chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2007–2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung pháp lý và chuẩn nghiệp vụ
Đề tài dựa trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn chuyên ngành thư viện:
- Pháp lệnh Thư viện năm 2000 (có hiệu lực từ ngày 01/04/2001), đặc biệt là Điều 9 quy định 4 điều kiện thành lập thư viện (vốn tài liệu, trụ sở - trang thiết bị chuyên dùng, cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ, kinh phí hoạt động ổn định).
- Nghị định quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện năm 2003 (Điều 4 về định nghĩa thư viện công cộng).
- Quy chế về tổ chức và hoạt động của thư viện huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (ban hành năm 1979 bởi Bộ Văn hóa - Thông tin), quy định cơ cấu vốn tài liệu chuẩn (30% khoa học chính trị, 30% khoa học kỹ thuật, 30% văn học nghệ thuật, 10% loại khác) và định mức 10.000 bản sách/cán bộ.
- Thông tư 67/2006/TT-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin về việc xếp hạng thư viện (Thư viện Hà Nội được xếp hạng 2).
- Các chuẩn nghiệp vụ xử lý tài liệu: Quy tắc biên mục Anh - Mỹ rút gọn (AACR2), Khung phân loại Thập phân Dewey (DDC) và Khung phân loại dùng cho thư viện khoa học tổng hợp do Thư viện Quốc gia Việt Nam biên soạn.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập ý kiến đánh giá từ cán bộ quản lý và nhân viên tại các thư viện quận về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tổ chức bộ máy.
- Khảo sát thực tế: Quan sát trực tiếp điều kiện trụ sở, kho sách, phòng đọc, tủ mục lục và quy trình xử lý nghiệp vụ tại cơ sở.
- Phỏng vấn trực tiếp: Trao đổi với cán bộ phụ trách thư viện về những vướng mắc trong vận hành, cơ chế tài chính và phân bổ nhân sự.
- Phân tích, tổng hợp tài liệu: Xử lý báo cáo định kỳ, văn bản hành chính và số liệu thống kê chuyên ngành từ Thư viện Hà Nội và các đơn vị chủ quản.
- Thống kê xã hội học: Xử lý, so sánh và tổng hợp các biến số định lượng về kinh phí, vốn tài liệu, lượt bạn đọc, lượt luân chuyển sách và cơ cấu nhân lực.
Nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu chính bao gồm: Báo cáo tổng kết công tác thư viện năm 2011 của Thư viện Thành phố Hà Nội; số liệu lưu trữ hành chính và sổ đăng ký cá biệt, tổng quát tại các thư viện quận Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Long Biên; các phiếu điều tra khảo sát thực địa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu khái quát về hệ thống thư viện quận trên địa bàn thủ đô Hà Nội
Chương này trình bày lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và chức năng của Thư viện Thành phố Hà Nội cùng mạng lưới thư viện tuyến quận trực thuộc sự quản lý chuyên môn.
-
Thư viện Thành phố Hà Nội: Tiền thân là "Phòng đọc sách nhân dân", thành lập ngày 15/10/1956, trải qua nhiều lần đổi địa điểm (nhà Thủy Tạ bên hồ Hoàn Kiếm, Lò Đúc, Mai Dịch, Văn Miếu - Quốc Tử Giám) trước khi cố định tại 47 Bà Triệu từ tháng 01/1959 với tên "Thư viện nhân dân Hà Nội". Tháng 02/2009, thư viện hợp nhất giữa Thư viện Hà Nội cũ và Thư viện Hà Tây, vận hành 2 cơ sở:
- Cơ sở 1: 47 Bà Triệu (Hoàn Kiếm), quy mô 8 tầng, diện tích sử dụng 7.500 m².
- Cơ sở 2: 2B Quang Trung (Hà Đông), diện tích sử dụng 2.029 m².
Tổng vốn tài liệu lưu trữ đạt 300.000 bản sách, 436 loại báo và tạp chí, hơn 1 vạn tài liệu địa chí, hơn 2.000 sách chữ nổi, cùng hàng ngàn tư liệu Hán - Nôm, bản đồ cổ và sách ngoại văn. Đội ngũ gồm 75 cán bộ (56 biên chế, 19 hợp đồng), 100% đạt trình độ cử nhân trở lên (7 thạc sĩ khoa học thư viện, 7 người có văn bằng 2).
-
Mạng lưới thư viện quận: Thành phố có 10 quận (Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Tây Hồ, Thanh Xuân). Đến thời điểm nghiên cứu, 9/10 quận đã có thư viện (thư viện quận Hà Đông thành lập sớm nhất năm 1957), riêng quận Hoàng Mai chưa thành lập.
-
Chức năng và nhiệm vụ: Thư viện quận thực hiện 4 chức năng cơ bản: giáo dục, cung cấp thông tin, thiết chế văn hóa và giải trí; đóng vai trò cầu nối giữa thư viện thành phố với hệ thống tủ sách, phòng đọc cơ sở.
-
Đặc điểm người dùng tin: Phân thành 3 nhóm đối tượng chính với nhu cầu riêng biệt:
- Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp: Nhu cầu tin chuyên sâu, chọn lọc, cô đọng về cơ chế, chính sách và quản lý kinh tế - xã hội để ra quyết định.
- Nhóm nhà khoa học, chuyên gia: Nhu cầu tin chuyên đề, thông báo tài liệu khoa học, tóm tắt công trình nghiên cứu sâu theo chuyên ngành.
- Nhóm bạn đọc đại chúng (công nhân, học sinh, sinh viên, người cao tuổi, thiếu nhi): Lực lượng đông đảo nhất, nhu cầu thông tin rộng, đa dạng từ học tập đến giải trí.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của các thư viện quận trên địa bàn thủ đô Hà Nội
Chương 2 cung cấp bức tranh chi tiết về các yếu tố vận hành tại 5 thư viện quận khảo sát trọng điểm (Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Long Biên) cùng toàn bộ mạng lưới:
HỆ THỐNG THƯ VIỆN QUẬN HÀ NỘI
Cơ sở vật chất Tổ chức & Kinh phí & Hoạt động nghiệp vụ Phục vụ & Mạng lưới
- Trụ sở & Diện tích Nhân lực - Ngân sách cấp (50-375 tr/năm) - Kho mở / Cung cấp bản gốc
- Kệ sách, Tủ mục lục - 100% TTVH/NVH- Bổ sung, AACR2, DDC, bảo quản - Giảm sút lượt đọc
- CNTT (INFORLIB 5.1) - 1,7 ng/thư viện- Đọc tại chỗ, mượn về nhà - 93 xã/phường, 738 tủ sách
- Trụ sở và trang thiết bị:
- Trụ sở: 4/9 thư viện có diện tích riêng (44,5%), 4/9 sử dụng chung diện tích trong Nhà văn hóa hoặc Trung tâm Văn hóa (44,5%), 1/9 phải mượn địa điểm (Long Biên, chiếm 11%), không có đơn vị nào đi thuê. Về diện tích, 5 thư viện có diện tích >100 m² (Hoàn Kiếm rộng nhất với 800 m², Cầu Giấy 300 m²), 4 thư viện <100 m², quận Hoàng Mai không có diện tích dành cho thư viện. Tình trạng chuyển đổi địa điểm (3–5 năm/lần) làm gián đoạn dịch vụ và thất thoát tài liệu.
- Trang thiết bị chuyên dùng: Tỷ lệ đáp ứng kệ/giá sách: Đủ (11% - 1 thư viện), Tạm đủ (78% - 7 thư viện), Không đủ (11% - 1 thư viện). Tỷ lệ đáp ứng tủ mục lục: Đủ (11% - 1 thư viện), Tạm đủ (67% - 6 thư viện), Không đủ (22% - 2 thư viện). Điển hình tại thư viện quận Hoàn Kiếm, kho có gần 3 vạn bản sách nhưng chỉ có 1 tủ mục lục, không đủ chỗ chứa phích mới.
| Chỉ số khảo sát |
Đủ (%) |
Tạm đủ (%) |
Không đủ (%) |
| Kệ, giá để sách |
11% (1/9) |
78% (7/9) |
11% (1/9) |
| Tủ mục lục tra cứu |
11% (1/9) |
67% (6/9) |
22% (2/9) |
-
Cơ cấu tổ chức và nhân lực:
- Tổ chức bộ máy: 100% thư viện quận trực thuộc Trung tâm Văn hóa hoặc Nhà văn hóa. 6/9 thư viện chỉ tổ chức 1 bộ phận duy nhất (chiếm 67%), 2/9 thư viện có 2 bộ phận (22%), 1/9 tổ chức không rõ ràng (11%). Cán bộ phải kiêm nhiệm toàn bộ khâu nghiệp vụ, phục vụ và công tác phong trào của đơn vị chủ quản.
- Nhân sự: Định biên bình quân đạt 1,7 cán bộ/thư viện. Có 5/9 thư viện chỉ có 1 cán bộ (55,5%), 3/9 thư viện có 2 cán bộ (33,5%), duy nhất thư viện quận Hoàn Kiếm có 3 cán bộ (11%).
- Trình độ: 14/15 cán bộ có trình độ đại học chuyên ngành thư viện (93%), 1/15 cán bộ trình độ trung cấp (7%). Tuy nhiên, trình độ tin học và ngoại ngữ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa.
-
Kinh phí hoạt động:
Nguồn kinh phí có sự chênh lệch lớn và biến động không ổn định qua các năm. Năm 2011, có 3 thư viện nhận kinh phí trên 150 triệu đồng/năm (Hoàn Kiếm 375 triệu đồng, Ba Đình 200 triệu đồng, Cầu Giấy 150 triệu đồng); 6 thư viện được cấp từ 50 đến 130 triệu đồng/năm. Thư viện quận Đống Đa tăng từ 10 triệu (2009) lên 150 triệu đồng (2011); Long Biên không có kinh phí trong các năm 2007–2008; Cầu Giấy bị gián đoạn kinh phí năm 2010 do chuyển trụ sở.
-
Vốn tài liệu và công tác nghiệp vụ:
- Quy mô kho sách (2011): 3 thư viện có trên 1,5 vạn bản sách gồm Hoàn Kiếm (28.341 bản), Ba Đình (26.843 bản), Tây Hồ (15.000 bản); thấp nhất là Long Biên (hơn 3.000 bản). Về báo - tạp chí, Hoàn Kiếm bổ sung 70 loại, các quận khác duy trì từ 20 đến trên 30 loại.
- Xử lý kỹ thuật: Tiến hành vào sổ Đăng ký tổng quát (ĐKTQ) và Đăng ký cá biệt (ĐKCB), dán nhãn, đóng dấu trang 17 và trang tên sách. Biên mục mô tả theo chuẩn AACR2 rút gọn; phân loại sử dụng DDC (mới triển khai tại Hoàn Kiếm, Tây Hồ) hoặc Khung phân loại của Thư viện Quốc gia. Khâu tóm tắt tài liệu và định từ khóa chuẩn chưa thực hiện được.
- Tổ chức kho và bảo quản: Chủ yếu tổ chức kho mở kết hợp sắp xếp theo môn loại. Việc thanh lý tài liệu hầu như không thực hiện do thủ tục phức tạp; công tác kiểm kê cuối năm tiến hành thủ công; bảo quản và vệ sinh kho bằng phương pháp thông thường, chưa có thiết bị hút bụi hay hệ thống báo cháy tự động.
-
Phục vụ bạn đọc và ứng dụng công nghệ thông tin:
- Hình thức phục vụ: Cung cấp tài liệu gốc qua đọc tại chỗ và mượn về nhà. Xu hướng số lượt bạn đọc sụt giảm do cạnh tranh từ phương tiện truyền thông số và sự bất tiện về không gian đọc (Đống Đa không có phòng đọc riêng, Hai Bà Trưng diện tích đọc rất hẹp). Thẻ bạn đọc thiếu nhi chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng số thẻ cấp năm 2011 (Ba Đình: 280/510 thẻ; Cầu Giấy: 81/150 thẻ; Hà Đông: 150/200 thẻ).
- Ứng dụng CNTT: Mới có 3 thư viện xây dựng cơ sở dữ liệu (Ba Đình, Cầu Giấy, Tây Hồ). Thư viện quận Hoàn Kiếm ứng dụng phần mềm INFORLIB 5.1 nhưng chỉ mới khai thác phân hệ biên mục tài liệu.
-
Hoạt động tuyên truyền và phát triển mạng lưới cơ sở:
- Tổ chức nói chuyện chuyên đề gắn với sự kiện chính trị (60 năm Cách mạng Tháng Tám, 55 năm Giải phóng Thủ đô, Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội năm 2010).
- 100% quận tham gia Hội thi và Liên hoan thiếu nhi tuyên truyền giới thiệu sách hè.
- Phát triển mạng lưới cơ sở gồm 93 thư viện cấp xã/phường và 738 tủ sách cụm dân cư/thôn làng. Thư viện thành phố thực hiện luân chuyển 2 đợt/năm (vài trăm cuốn/đợt, thời hạn luân chuyển 6 tháng). Cán bộ thư viện cơ sở chủ yếu kiêm nhiệm, không có phụ cấp.
Chương 3: Một số nhận xét và kiến nghị
Chương 3 tổng kết các mặt ưu điểm, chỉ rõ những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các hạn chế tồn tại và đề xuất định hướng khắc phục:
-
Ưu điểm:
- Hình thành mạng lưới thư viện quận tương đối rộng khắp (9/10 quận), tạo thiết chế văn hóa đọc tại chỗ cho nhân dân.
- 100% cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ thư viện, trong đó 93% đạt trình độ đại học.
- Duy trì hiệu quả các phong trào tuyên truyền giới thiệu sách hè và phát triển mạng lưới 738 tủ sách cơ sở.
- Tổ chức kho mở giúp bạn đọc tiếp cận tài liệu thuận lợi.
-
Hạn chế:
- 100% thư viện phụ thuộc hoàn toàn vào Trung tâm/Nhà văn hóa, không có tư cách pháp nhân độc lập, 67% chỉ có 1 bộ phận chung.
- Tình trạng thiếu nhân sự nghiêm trọng (bình quân 1,7 người/thư viện), cán bộ lớn tuổi hạn chế tiếp cận công nghệ thông tin và ngoại ngữ.
- Cơ sở vật chất thiếu thốn, 44,5% thư viện diện tích dưới 100 m², thiếu giá sách, tủ mục lục, không có hệ thống phòng cháy tự động.
- Dịch vụ thông tin đơn điệu, chưa triển khai dịch vụ sao chụp, cung cấp thư mục chuyên đề hay bản tóm tắt; ứng dụng CNTT còn cục bộ, manh mún.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực trạng tổng hợp tại các thư viện quận khảo sát điểm
| Thư viện quận |
Trụ sở / Diện tích |
Kinh phí năm 2011 |
Quy mô vốn tài liệu (2011) |
Nhân lực chuyên trách |
Mức độ ứng dụng CNTT |
| Hoàn Kiếm |
Trụ sở riêng / 800 m² |
375 triệu đồng |
28.341 bản (70 loại báo/tạp chí) |
3 cán bộ |
Phần mềm INFORLIB 5.1 (biên mục), dùng DDC |
| Ba Đình |
Tầng 1 TTVH / >100 m² |
200 triệu đồng |
26.843 bản sách |
1 cán bộ |
Xây dựng CSDL, cấp 280/510 thẻ thiếu nhi |
| Cầu Giấy |
Chung NVH / 300 m² |
150 triệu đồng |
>10.000 bản sách |
2 cán bộ |
Xây dựng CSDL, cấp 81/150 thẻ thiếu nhi |
| Đống Đa |
Chung NVH / <100 m² |
150 triệu đồng |
<10.000 bản sách (xu hướng giảm) |
1-2 cán bộ |
Chưa ứng dụng CNTT, không có phòng đọc riêng |
| Long Biên |
Mượn trụ sở (thành lập 2009) |
Dưới 50 triệu đồng |
>3.000 bản sách (ít nhất mạng lưới) |
1-2 cán bộ |
Chưa ứng dụng CNTT, tài liệu mượn tạm |
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất
- Kiện toàn mô hình tổ chức và biên chế: Tách bạch rõ 2 bộ phận nghiệp vụ và phục vụ; bổ sung định biên cán bộ tỷ lệ thuận với quy mô kho sách (tối thiểu 1 cán bộ/10.000 bản sách theo quy chế); ban hành văn bản pháp lý quy định định mức lao động thư viện cấp quận.
- Nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị: Bố trí trụ sở độc lập, yên tĩnh, diện tích tối thiểu trên 100 m²; bổ sung giá sách, tủ mục lục chuyên dụng, hệ thống đèn chiếu sáng và thiết bị phòng cháy chữa cháy tự động; kết hợp linh hoạt mô hình kho đóng (cho tài liệu quý hiếm) và kho mở.
- Đổi mới công tác bổ sung và xử lý tài liệu: Cân đối ngân sách đầu năm cho việc mua tài liệu mới; bổ sung sách theo nhu cầu thực tế của các nhóm người dùng tin (đặc biệt là thanh thiếu nhi và cán bộ quản lý); chuẩn hóa việc phân loại tài liệu bằng khung DDC; triển khai công tác tóm tắt tài liệu và định từ khóa có kiểm soát.
- Hiện đại hóa công nghệ thông tin: Đầu tư máy tính, trang bị phần mềm quản lý thư viện tích hợp thống nhất (như INFORLIB), xây dựng cơ sở dữ liệu thư mục điện tử phục vụ tra cứu thay thế dần tủ phích thủ công.
- Nâng cao chất lượng nhân lực: Tuyển dụng cán bộ trẻ am hiểu công nghệ thông tin; đào tạo lại kỹ năng tin học, ngoại ngữ và chuẩn biên mục hiện đại cho cán bộ lâu năm.
- Mở rộng dịch vụ và củng cố mạng lưới cơ sở: Phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng (in ấn, sao chụp, thư mục chuyên đề); duy trì luân chuyển sách định kỳ 6 tháng/lần xuống 93 xã/phường và 738 tủ sách cơ sở; đề xuất chế độ phụ cấp trách nhiệm cho người phụ trách tủ sách thôn/tổ dân phố.
Đóng góp học thuật và thực tiễn
So với các công trình nghiên cứu trước đây chỉ giới hạn ở phạm vi ngoại thành (Hoàng Thị Trang, K43 TTTV: Nghiên cứu về Tổ chức và quản lý mạng lưới thư viện cơ sở ở ngoại thành Hà Nội) hoặc đi vào một đơn vị riêng lẻ (Bàn Thị Năm, K52 TTTV: Tình hình tổ chức và hoạt động tại thư viện Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội), khóa luận này mang lại cái nhìn tổng thể, mang tính hệ thống trên toàn địa bàn Thủ đô. Tác giả đã lượng hóa chi tiết các chỉ số hoạt động của 9 thư viện quận và khảo sát sâu 5 đơn vị tiêu biểu, chỉ rõ sự chênh lệch phát triển giữa các quận nội thành cũ và mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Khoa học Thông tin - Thư viện, Quản lý Văn hóa: Nắm bắt phương pháp khảo sát thực tế, quy trình xử lý nghiệp vụ truyền thống (AACR2, DDC, lập sổ ĐKTQ/ĐKCB) và mô hình tổ chức thư viện công cộng cấp huyện/quận.
- Cán bộ quản lý thư viện và cơ quan chủ quản văn hóa: Tham khảo hệ thống bảng biểu số liệu, định mức nhân sự, kinh phí và các căn cứ pháp lý để xây dựng đề án nâng cấp thư viện quận, huyện và phát triển tủ sách cơ sở.
- Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 với các số liệu thống kê chi tiết về cơ sở vật chất, kinh phí, biến động lượt bạn đọc và thực trạng tổ chức kho mở/kho đóng tại 5 quận đại diện.
Câu hỏi thường gặp
1. Hệ thống thư viện quận trên địa bàn Hà Nội có những mô hình quản lý trực thuộc nào?
Theo số liệu khảo sát trong khóa luận, 100% thư viện quận đều trực thuộc Trung tâm Văn hóa hoặc Nhà văn hóa cấp quận, không có thư viện nào trực thuộc trực tiếp Ủy ban nhân dân quận hay Phòng Văn hóa - Thông tin.
2. Tỷ lệ nhân lực và trình độ chuyên môn của cán bộ thư viện quận tại Hà Nội như thế nào?
Số lượng nhân lực bình quân đạt 1,7 cán bộ/thư viện (55,5% thư viện chỉ có 1 cán bộ duy nhất, 33,5% có 2 cán bộ và chỉ 11% có 3 cán bộ). Về trình độ chuyên môn, 93% (14/15 người) có trình độ đại học ngành thư viện và 7% (1/15 người) có trình độ trung cấp.
3. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm quản trị thư viện tại các quận ra sao?
Hầu hết các thư viện chưa ứng dụng công nghệ thông tin đồng bộ. Mới chỉ có 3 thư viện bước đầu xây dựng cơ sở dữ liệu (Ba Đình, Cầu Giấy, Tây Hồ). Riêng thư viện quận Hoàn Kiếm đã trang bị phần mềm INFORLIB 5.1 nhưng trên thực tế chỉ mới sử dụng phân hệ biên mục tài liệu.
4. Khung phân loại tài liệu nào đang được áp dụng tại các thư viện quận?
Mạng lưới thư viện quận sử dụng song song hai hệ thống: Khung phân loại Thập phân Dewey (DDC) và Khung phân loại dùng cho thư viện khoa học tổng hợp của Thư viện Quốc gia Việt Nam. Tại thời điểm nghiên cứu, mới chỉ có 2 đơn vị áp dụng khung phân loại DDC là thư viện quận Hoàn Kiếm và thư viện quận Tây Hồ.
5. Thư viện nào có quy mô vốn tài liệu và kinh phí hoạt động lớn nhất trong số các đơn vị được khảo sát năm 2011?
Thư viện quận Hoàn Kiếm dẫn đầu mạng lưới với diện tích sử dụng 800 m², vốn tài liệu 28.341 bản sách, bổ sung 70 loại báo/tạp chí và kinh phí hoạt động đạt 375 triệu đồng trong năm 2011.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Tâm đã phản ánh chân thực bức tranh tổ chức và hoạt động của hệ thống thư viện quận tại Hà Nội trong giai đoạn đổi mới và hội nhập. Qua việc khảo sát thực địa và lượng hóa số liệu tại các đơn vị tiêu biểu, công trình đã chỉ rõ những bất cập về mô hình trực thuộc, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, nhân lực kiêm nhiệm và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin còn sơ khai. Các giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, gắn kết giữa hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng kỹ thuật với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, là tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác quản lý và phát triển mạng lưới thư viện công cộng đô thị.