CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quái niệm về tư duy Trong thực tiễn cuộc sống, có rất nhiều thứ mà chúng ta chưa biết, chưa hiểu. Song con người cần thấu hiểu sâu sắc về những cái chưa biết, tìm hiểu rõ bản chất, các mối quan hệ cũng như tính liên hệ của chúng để có thể làm chủ được mọi vấn đề. Quá trình đó gọi là tư duy.
Tư duy là một phạm trù triết học mà thông qua hoạt động vật chất, người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó về những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới. Quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính, bản chất, mối liên hệ bên trong có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết được gọi là tư duy. Bên cạnh đó, tư duy là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. Khác với cảm giác, tri giác đánh giá các thuộc tính bên ngoài còn tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng.
Quá trình phản ánh này mang tính gián tiếp và khái quát nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa giới hạn của nhận thức cảm tính [15]. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam cho rằng: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt – bộ não con người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan thông qua các khái niệm, sự phán đoán, lý luận. Đặc điểm của tư duy So với cảm giác, tri giác tư duy có những đặc điểm mới về thuộc mức độ nhận thức cao – nhận thức lý tính.
Các đặc điểm cơ bản của tư duy: tính có vấn đề, tính trừu tượng và tính khái quát hóa, tính gián tiếp, tư duy liên hệ với nhận thức cảm tính, tư duy gắn liền với ngôn ngữ[15]. Tính có vấn đề của tư duy Tư duy không phải hoàn cảnh nào cũng xuất hiện.Thực tế, tư duy chỉ xuất hiện khi chúng ta gặp tình huống “có vấn đề”. Tình huống có vấn đề là tình huống chưa có câu trả lời, tuy nhiên câu trả lời đã tiềm ẩn bên trong, tình huống chứa điều kiện giúp ta tìm ra câu trả lời đó. Tuy nhiên, không phải tình huống nào có vấn đề cũng kích thích được hoạt động tư duy.
Ta chỉ tư duy khi tình huống đó có vấn đề đó được nhận thức đầy đủ, coi đó là nhiệm của của bản thân. Tức là, cá nhân phải nhận thức được những gì đã biết, chưa biết, bản thân đang muốn hiểu biết thêm những gì. Trên cơ sở đó, tư duy mới xuất hiện. Trong quá trình tư duy, tính “có vấn đề” của tư duy là tính chất cơ bản và quan trọng nhất.
Tính gián tiếp của tư duy Việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy, là một hình thức thể hiện tính gián tiếp của tư duy của con người. Khi tư duy chúng ta sẽ sử dụng ngôn ngữ để thể hiện những tư duy của mình, con người tư duy bằng não vì thế những gì ta tư duy không thể thể hiện ra bên ngoài cũng như người khác không thể nhìn thấy được. Để nhận thức được cái bên trong của một sự vật hiện tượng nào đó, con người dùng ngôn ngữ để sử dụng kết quả nhận thức (Công thức, quy tắc, khái niệm, định lí,…) vào quá trình tư duy. Vì vậy, ngôn ngữ là một phương tiện nhận thức đặc thù của con người.
Tư duy còn được thể hiện gián tiếp ở chỗ, con người sử dụng các phương tiện công cụ khác nhau để nhận thức sự vật, hiện tượng mà không thể trực tiếp tri 10 giác trong quá trình tư duy. Ví dụ muốn biết nhiệt độ của nước, chúng ta có thể dùng nhiệt kế để đo nhiệt độ, sở dĩ có thể nhận thức được gián tiếp vì giữa các sự vật hiện tượng mang tính quy luật. Nhờ có tính gián tiếp, con người không chỉ phản ánh những gì xảy ra trong hiện tại mà còn phản ánh cả quá khứ và tương lai, tư duy của con người đã mở rộng không giới hạn những khả năng nhận thức của con người,. Ví dụ: những dữ liệu thiên văn, con người nghiên cứu con người có thể dự báo được thời tiết, tránh được những thiên tai.
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh một cách cụ thể riêng lẻ về sự vật, hiện tượng. Tư duy chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, loại bỏ các thuộc tính, dấu hiệu cá biệt cụ thể khỏi sự vật, hiện tượng. Trên cơ sở đó, đưa những sự vật hiện tượng riêng lẻ thành một nhóm một loại, một phạm trù. Nói theo cách khác, tư duy mang tính trừu tượng và khái quát [15].
Con người không những giải quyết được những nhiệm vụ hiện tại mà còn có thể giải quyết được những nhiệm vụ của tương lai là nhờ vào tính trừu tượng và khái quát của tư duy. Không chỉ vậy, trong khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể vẫn có thể xếp nó vào một nhóm, một loại, một phạm trù để có những quy tắc phương pháp giải quyết tương tự. Tư duy gắn liền với ngôn ngữ Tư duy luôn gắn chặt với ngôn ngữ sở dĩ nó mang tính “có vấn đề”, tính gián tiếp, tính trừu tượng và khái quát. Ngôn ngữ và tư duy có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ trợ nhau.
Các quá trình tư duy của con người không diễn ra được nếu không có ngôn ngữ đồng thời sản phẩm của tư duy cũng không được người khác tiếp nhận. Đây còn là một đặc điểm khác biệt giữa tâm lí người và tâm 11 lí động vật. Tâm lí hành động luôn dừng lại ở tư duy hành động trực quan, không có khả năng vượt qua khỏi phạm vi đó. Tư duy gắn liền hoạt động nhận thức cảm tính Mặc dù ở mức độ nhận thức cao hơn nhưng tư duy phải dựa vào nhận thức cảm tính tức là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Tư duy liên hệ với bên ngoài thông qua kênh duy nhất là hoạt động nhận thức cảm tính. Các tình huống “có vấn đề” nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính, từ đó tư duy xuất hiện. Nhận thức cảm tính là một khâu liên hệ trực tiếp giữa tư duy và hiện thực, là cơ sở, chất liệu của những khái quát theo một nhóm, lớp, phạm trù mang tính quy luật trong quá trình tư duy. Nhà tâm lí học Xô Viết X.Rubistenin: “Nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, tựa hồ như làm chỗ dựa cho tư duy”[15].
Tư duy phản biện (Critical thinking) 1. Quan niệm về tư duy phản biện Theo các công trình nghiên cứu, có rất nhiều khái niệm khác nhau về tư duy phản biện. Chẳng hạn: Theo nhà tâm lý học, giáo dục học người Mỹ - J. Dewey gọi tư duy phản biện là “reflective thinking” (suy nghĩ sâu sắc) và ông định nghĩa TDPB như sau: “Sự suy xét, liên tục, chủ động, cẩn trọng về một niềm tin, một giả thuyết khoa học có xét đến những lý lẽ bảo vệ nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến” [22].
Edward Glaser - đồng tác giả của một trắc nghiệm TDPB được sử dụng rộng rãi nhất thế giới là WatsonGlaser CriticalThinking Appraisal đã phát biểu về TDPB như sau: “(1) ) là sự hiểu biết về phương pháp điều tra và suy luận có lý, (2) là thái độ sẵn lòng quan tâm suy nghĩ chu đáo, cẩn thận về những vấn đề và chủ đề xuất hiện trong cuộc sống cá nhân và (3) là một số kỹ năng trong việc áp dụng các phương pháp đó. Tư duy phản biện đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ để khảo sát 12 giả thuyết hay một niềm tin bất kỳ bằng các bằng chứng khẳng định nó và hướng đến những kết luận xa hơn” [22]. Theo Michael Scriven, ông lại cho rằng “Tư duy phản biện là khả năng, hành động để thấu hiểu và đánh giá được những dữ liệu thu thập được thông qua quan sát, giao tiếp, truyền thông, và tranh luận” , Michael Scriven quan niệm rằng TDPB chỉ là “một năng lực học vấn cơ bản, giống như là đọc và viết” [22]. Tổng hợp từ các định nghĩa trên, TDPB có thể định nghĩa như sau: Tư duy phản biện (critical thinking) là quá trình vận dụng trí tuệ tích cực vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, ý tưởng, xu hướng, giả thuyết từ việc quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin, vốn kiến thức và lý lẽ nhằm mục đích xác định đúng – sai, tốt - xấu, hay – dở, hợp lý – không hợp lý, nên – không nên, và rút ra quyết định, cách ứng xử cho mình.
Một số biểu hiện đặc trưng của tư duy phản biện K. Beyer (1995) nêu lên các đặc điểm thiết yếu của người có tư duy phản biện, như sau:[20] Không có thành kiến: những người có TDPB là người biết lắng nghe, luôn ham muốn tìm hiểu và biết chấp nhận những ý kiến không theo suy nghĩ của mình, đánh giá cao giá trị công bằng, tôn trọng các bằng chứng và lý lẽ, luôn rõ ràng chính xác trong mọi việc; biết xem xét, phân tích các quan điểm khác nhau từ đó có sự thay đổi quan điểm khi cảm thấy đúng và cần thiết. Biết vận dụng các tiêu chuẩn: Để phát biểu trở nên đáng tin cậy, các điều kiện đã cho phải thỏa mãn nhất định. Mỗi lĩnh vực khác nhau có thể sẽ có các tiêu chuẩn, chuẩn mực khác nhau, tuy nhiên có nhiều vấn đề, lĩnh vực khác nhau vẫn có thể được áp dụng chung những tiêu chuẩn đó, ví dụ như: “…một khẳng định bất kỳ phải … được dựa trên những sự thật có liên quan chính xác, 13 từ các nguồn đáng tin cậy, rõ ràng và thoát khỏi logic ngụy biện, hợp logic, lý lẽ vững chắc”.
Có khả năng tranh luận: Tư duy phản biện bao gồm cả việc nhận dạng, đánh giá, và xây dựng các lý lẽ. Có khả năng suy luận: có khả năng đưa ra kết luận về một vấn đề nào đó. Để làm được điều đó, cần có tư duy logic giữa các vấn đề, mối liên hệ của chúng. Xem xét vấn đề từ nhiều phương diện khác nhau: Những người có TDPB luôn xem xét các vấn đề từ nhiều phương diện khác nhau.