Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ. Về trung tâm học tập cộng đồng và xây dựng trung tâm học tập cộng đồng đã có những nghiên cứu bƣớc đầu. Ngay từ 1993 tờ thông tin khoa học GD đã cho ra một chuyên san về giáo dục cộng đồng : vấn đề và sự phát triển (số 36-1993).
ở số 36 của tạp chí đã đăng các bài viết của các nhà nghiên cứu về vấn đề này ở viện khoa học GD và trƣờng cán bộ quản lí giáo dục; đặc biệt lƣu ý có bài của PGS,TS Đặng Quốc Bảo , “Giáo dục cộng đồng: Quan niệm, vấn đề và giải pháp”, [1]. Sau khi hội khuyến học ra đời, chủ trƣơng phát triển giáo dục cộng đồng, và xây dựng xã hội học tập ở Việt nam đã đƣợc đẩy mạnh và có những biện pháp cụ thể Một trong các biện pháp đó là cho ra đời hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng trong phạm vi cả nƣớc. Theo thông kê bƣớc đầu đến nay đã có gần nửa số xã trong phạm vi toàn quốc đã có trung tâm học tập cộng đồng (gần 3.500) và đã có những hội thảo về phát triển thiết chế học tập này. Vấn đề trung tâm học tập cộng đồng cũng đã có một số luận văn thạc sỹ đề cập đến.
Một trong những luận văn đƣợc bảo vệ gần đây của thạc sỹ Trần Mạnh Cung với tên gọi “Xây dựng trung tâm giáo dục cộng đồng, một biện pháp đẩy mạnh xã hội hóa công tác giáo dục và hỗ trợ phát triển giáo dục cộng đồng trên địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Giang “ đã bảo vệ thành công năm 2003. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng. Theo PGS - TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí {7] thì quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Bất luận một tổ chức nào có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có ngƣời quản lý để tổ chức hoạt động và đạt đƣợc mục đích của mình. Ngƣời quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích. Theo Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), hậu thế coi ông là “Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”. Từ một kỹ sƣ cơ khí trở thành một kỹ sƣ trƣởng.
Qua quá trình quan sát trong lao động ông đã đƣa ra bốn nguyên tắc quản lý nhƣ sau: 1/ Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phƣơng pháp tốt nhất để hoàn thành. 2/ Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phƣơng pháp có tính khoa học đã hình thành. 3/ Ngƣời quản lý hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo chắc chắn rằng ngƣời công nhân sẽ làm việc theo những phƣơng pháp đúng đắn. 4/ Phân chia công việc và trách nhiệm sao cho ngƣời quản lý có bổn phận phải lập kế hoạch cho các phƣơng pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý khoa học, còn ngƣời công nhân có bổn phận thực thi công tác theo đúng kế hoạch đó.
Theo Henri Fayol (1841 - 1925) là một kỹ nghệ gia ngƣời Pháp, cống hiến lớn nhất của Fayol là xuất phát từ các loại hình “hoạt động quản lý”, ông là ngƣời đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra mà sau này chúng đƣợc kết hợp thành 4 chức năng: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Cũng nhƣ các nhà cổ điển khác, ông nhấn mạnh đến ý nghĩa của cấu trúc (bộ máy) tổ chức. Ông khẳng định con ngƣời lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành, những nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lƣới dệt nên mục tiêu của tổ chức. Ông đề xuất 14 nguyên tắc quản lý.
Quan điểm tình huống trong quản lý là quan điểm cho rằng các hành động quản lý thích hợp phụ thuộc vào các tham số riêng có ở mỗi tình huống cụ thể. Do đó thay vì tìm kiếm những nguyên lý phổ quát áp dụng cho mọi tình huống, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mọi hoàn cảnh, nên xác định các nguyên lý tình huống cho phép vạch ra cách thức hành động tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi tình thế, hoàn cảnh cụ thể nhất định. Quan điểm tình huống có thế mạnh ở cách tiếp cận có tính chẩn đoán của mình, khác với cách tiếp cận “Một biện pháp tốt nhất” do các thuyết khác đề xƣớng. Và chính tính linh hoạt, năng động trong hành động quản lý do cách tiếp cận nhƣ vậy tạo nên cũng là điểm mạnh của quan điểm này.
Thuyết này hƣớng dẫn ngƣời quản lý nên sử dụng các thuyết đã có trong các tình huống cụ thể chứ không đề xuất một “bài bản” gì mới mẻ hoàn toàn. [7] Theo Phó Giáo sƣ - Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn. Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý.2 Quản lý giáo dục: Cũng nhƣ mọi hoạt động khác của xã hội loài ngƣời, giáo dục cũng đƣợc quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành.
Bản thân sự giáo dục đƣợc tổ chức và có mục đích đã là một thực tiễn quản lý giáo dục sống động. Thực tiễn quản lý giáo dục luôn tồn tại và sôi động nhƣng việc tổng kết lý luận về vấn đề này đã đi chậm khá xa so với thực tiễn [7]. Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các luận văn Tiến sĩ, Phó tiến tiến sĩ và những khía cạnh khác nhau của quản lý giáo dục. Trong số những công trình đó có những công trình nghiên cứu sâu sắc về “Thanh tra giáo dục”, “Kế hoạch hóa giáo dục”.
Năm 1956 lần đầu tiên xuất hiện cuốn “Quản lý trƣờng học” (Skolovvedenie) của A.pôpốp, một nhà hoạt động sƣ phạm và quản lý giáo dục của Liên Xô cũ. Cuốn sách này về thực chất không phải là một công trình khoa học về quản lý giáo dục mà một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những ngƣời làm công tác quản lý giáo dục, đặc biệt là quản lý trƣờng học. Dù mang tính chất của một cuốn “Cẩm nang” hay “Sổ tay hƣớng dẫn”. “Quản lý trƣờng học” cũng ghi dấu ấn nhƣ một tài liệu hoàn chỉnh đầu tiên về quản lý giáo dục.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Đặc biệt Cônđacốp nhà lý luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên Xô (cũ) đã dày công nghiên cứu những vấn đề quản lý giáo dục và đã đúc kết trong cuốn sách mang tựa đề “Những cơ sở lý luận của quản lý trƣờng học” (1983). Năm 1987 Viện quản lý và kinh tế giáo dục thuộc Viện hàn lâm sƣ phạm Liên Xô (cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về quản lý trƣờng học trong nhiều năm trong cuốn “Những cơ sở của quản lý nội bộ trƣờng học”. Cuốn sách đã trình bày những quan điểm mới nhất về quản lý giáo dục của các học giả Xô Viết (cũ) tính đến thời điểm đó. Tại các nƣớc phƣơng Tây, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục cũng rất sôi động.
Đầu những năm 90 UNESCO PROAP đã xuất bản cuốn sách có tính cẩm nang về kỹ năng quản lý giáo dục mang tựa đề “Kế hoạch hóa và quản lý giáo dục vi mô” (Micro-level Educational planning and Management). Trong những năm gần đây sách báo về quản lý giáo dục đã xuất hiện rất nhiều. Điển hình là các công trình “Nghề hiệu trƣởng - Một triển vọng thực tiễn đƣợc phản ánh” (The Principalship - A Reflective. Perspective) của Thomas J.Seriovanni (1991); “Hành vi tổ chức trong giáo dục” (Organi zational Behavior in Education) của Robert J owens (1995); Quản lý giáo dục: lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn (Educational Adminstration - Theory, Researah and practive) của Wayne K.
Quản lý giáo dục khác với quản lý kinh tế - xã hội bởi quản lý giáo dục không thể đƣa ra các mục đích cụ thể, tƣờng minh, lƣợng hóa và đánh giá cụ thể đƣợc. Quản lý giáo dục là một bộ môn khoa học, bộ môn chiết trung - liên ngành Hầu hết các lý thuyết khác nhau về quản lý giáo dục đều có một số đặc điểm chung sau: 1. Các lý thuyết quản lý giáo dục có xu hƣớng định chuẩn (non mative) trong đó chúng phản ánh những niềm tin về bản chất của các thiết chế giáo dục và về hành vi của mỗi thành viên trong các thiết chế đó. Với các mức độ đậm nhạt khác nhau, các lý luận gia về quản lý giáo dục đều trình bày quan điểm của họ về nhà trƣờng (dù là phổ thông hay đại học) phải đƣợc quản lý nhƣ thế nào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hơn là chỉ mô tả các khía cạnh của quản lý hoặc giải thích cấu trúc tổ chức của nhà trƣờng.
Chẳng hạn khi các nhà quản lý giáo dục thực tiễn hoặc các nhà hàn lâm về quản lý giáo dục đòi hỏi việc ra quyết định trong nhà trƣờng phải tuân theo phƣơng pháp “Quá trình ra quyết định có sự tham gia của tập thể”. Họ đã dựa trên những phán đoán có tính định chuẩn thay vì sự phân tích thực tiễn sống động của nhà trƣờng. Các lý thuyết quản lý giáo dục thƣờng đƣợc xây dựng dựa trên sự quan sát (obsenvation) thực tiễn diễn ra trong các thiết chế giáo dục. Quan sát có hệ thống các sự kiện diễn ra trong thực tiễn là một phƣơng pháp nghiên cứu khoa học, tuy vậy chƣa đủ để làm căn cứ cho việc xây dựng, hình thành nên một lý luận, bởi tính chủ quan của chủ thể quan sát là điều không tránh khỏi.