mở đầu và đặt nền móng về lý thuyết cho việc xây dựng thành công TTĐ. Đây cũng chính là những kinh nghiệm được đúc rút từ chính quá trình xây dựng và phát triển TTĐ tại các quốc gia này. Các công trình nghiên cứu đáng chú ý trong thời kỳ này là: • Điều tiết các DN độc quyền đã tư nhân hóa tại Anh quốc, Beesley, M. Littlechild (1989) • Các vấn đề về tự do hóa ngành điện, David M.
Newbery (1996); • Tư nhân hóa và tự do hóa các công ty truyền tải, David M. Newbery (1997); • Thiết kế TTĐ cạnh tranh, Tập sách do Frederick S. Hillier biên tập (1998); • Các bài học kinh nghiệm của quá trình tự do hóa TTĐ, P. Joskow (2006); • Tái cơ cấu ngành điện: xét trên quan điểm quốc tế, do Fereidoon P.
Sioshansi và Wolfgang Pfaffenberger biên tập (2006); Trước khi có làn sóng cải cách ngành điện trên khắp thế giới, mô hình sản xuất - cung ứng điện năng truyền thống được xây dựng dựa vào các nhà cung cấp “độc quyền” có sự điều tiết của nhà nước đối với giá cả, điều kiện gia nhập thị trường, quản lý đầu tư, kiểm soát chất lượng dịch vụ và hành vi DN. Đây được xem là mô hình “độc quyền tự nhiên”. Tuy nhiên các nghiên cứu của Joskow chỉ ra rằng, cấu trúc ngành điện cần thay đổi theo hướng: thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực phát điện, cải cách điều tiết khâu truyền tải và phân phối điện vốn tiếp tục được xem là các thể chế/đối tượng/chủ thể “độc quyền tự nhiên” [59]. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra xu thế cải cách ngành điện trên thế giới nói chung diễn ra tương tự như mô hình thành công của các ngành công nghiệp hạ tầng mạng lưới khác như viễn thông và khí tự nhiên [59; 63; 68; 69].
Các khu vực có nhiều tiềm năng để tạo ra cạnh tranh như phát điện được chia tách khỏi các chủ thể độc quyền tự nhiên như là các đơn vị truyền tải và phân phối điện [52]. Theo đó, chi phí gia nhập và rời khỏi thị trường đối với các khu vực cạnh tranh dần được phi điều tiết và khách hàng có thêm cơ hội lựa chọn giữa các nhà cung cấp trong môi trường cạnh tranh [45]. Các dịch vụ cung cấp bởi khu vực độc quyền tự nhiên đang được tách khỏi khu vực dịch vụ cạnh tranh, có trách nhiệm bảo đảm sự tiếp cận hạ tầng lưới điện công bằng cho các đơn vị phát điện và giá sử dụng hạ tầng lưới điện được 16 xác định bằng các cơ chế điều tiết mới có cách thức kiểm soát chi phí tốt hơn thay vì quy trình điều tiết theo tỉ suất lợi nhuận [59]. Sự thay đổi sâu rộng nói trên nhìn chung đều hướng đến hai mục đích tăng hiệu quả kinh tế và cung cấp nhiều lựa chọn hơn cho khách hàng sử dụng điện thông qua việc tạo ra mức độ cạnh tranh lớn hơn cho toàn ngành [64].
Các nghiên cứu cũng chỉ ra kết quả tích cực của việc cải cách ngành điện: trong hơn 30 năm qua, phần lớn các nước phát triển đã tiến hành các chương trình tư nhân hóa, tái cơ cấu và phi điều tiết các lĩnh vực mà trước đó là sân chơi của các chủ thể độc quyền hoặc sở hữu nhà nước như hàng không, vận tải, viễn thông, khí tự nhiên, bưu chính, tàu hỏa và một số lĩnh vực khác. Mặc dù kết quả đạt được có khác nhau và không phải lúc nào cũng thành công nhưng xu thế chung là ủng hộ cho các cải cách mang tính tự do hóa đối với các lĩnh vực độc quyền có điều tiết. Mô hình cạnh tranh cho TTĐ từ cấp độ độc quyền có điều tiết cho tới cạnh tranh hoàn toàn đã được Hunt và Shuttleworth đề xuất bao gồm bốn cấp độ [54]: - Cấp độ 1: độc quyền ở đó đơn vị độc quyền kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng bao gồm sản xuất, truyền tải, phân phối điện; - Cấp độ 2: cạnh tranh trong khâu sản xuất điện, thị trường mở cửa có thêm sự tham gia của các đơn vị sản xuất điện độc lập - Cấp độ 3: cạnh tranh bán buôn, khi các công ty phân phối điện được mua điện trực tiếp từ các nhà sản xuất điện; - Cấp độ 4: cạnh tranh bán lẻ, khi đó thị trường ở trạng thái cạnh tranh cao nhất, khách hàng dược quyền lựa chọn nhà cung cấp điện ở cấp độ bán lẻ. Về cơ chế giá điện, các nghiên cứu gần đây của EU, UNDP, World Bank, GIZ đều có chung nhận định giá điện bán lẻ bình quân tại Việt Nam hiện nay ở mức tương đối thấp và vẫn tồn tại trợ giá, đặc biệt cho nhiên liệu hóa thạch ở các hình thức khác nhau [89; 52; 84; 85; 86].
Nhà nước có các can thiệp và điều chỉnh đối với giá điện mà đôi khi làm cho thị trường không vận hành được theo các lộ trình xây dựng và cải thiện mức độ cạnh tranh trong ngành điện. Các khuyến cáo của các tổ chức quốc tế đều tập trung vào đề xuất các giải pháp gỡ bỏ các chính sách trợ giá, mở cửa và hạ thấp rào cản tiếp cận TTĐ, tiến hành cải cách cơ chế quản lý giá điện để thị trường vận hành hiệu quả hơn và thu hút được đầu tư vào sản xuất - cung ứng điện. 17 Bên cạnh đó, xây dựng chính sách, cơ chế quản lý và điều tiết TTĐ cũng là một nội dung quan trọng thu hút được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều học giả. Đây là các nghiên cứu cung cấp những kiến giải sâu sắc và các ví dụ sinh động từ thực tế quản lý và điều tiết thị trường tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Nền móng lý thuyết và các kinh nghiệm đúc rút từ thực tế được công bố tại các nghiên cứu của các tác giả Cushman, Littlechild, North, Moen và Hamrin, và Stern [47; 63; 65; 72; 77; 78]. Tác giả Cushman đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc đảm bảo tính độc lập của các cơ quan điều tiết trong việc thực thi quyền hạn và chức năng của họ. Ông lập luận rằng khi cơ quan điều tiết có sự độc lập thì họ có khả năng tốt hơn trong việc thuê nhân sự có năng lực và trình độ vì họ ít bị ràng buộc hơn theo quy định chung về lương bổng cho nhân sự khu vực hành chính công [47]. Các cơ quan độc lập cũng được cho là có các định hướng hoạt động - công tác trong dài hạn tập trung hơn và ít bị ảnh hưởng hơn bởi các mục tiêu ngắn hạn [58; 62].
Việc đánh giá và đo lường sự độc lập của cơ quan điều tiết được Stern đề xuất năm 1997 như sau: Khoảng cách giữa chính phủ và cơ quan điều tiết đo lường theo các yếu tố như việc thành lập và giải tán các cơ quan điều tiết, ngân sách cho các cơ quan điều tiết, và quan hệ giữa cơ quan điều tiết và chính phủ (ví dụ như một đơn vị riêng biệt với các bộ, ngành khác, cơ quan độc lập với chính phủ) [51; 77]. Littlechild cho rằng có thể xem xét mức độ độc lập của cơ quan điều tiết điện lực thể hiện ở quy trình thành lập hoặc giải tán (hoặc cơ chế bảo đảm nhiệm kỳ cho thành viên), nguồn ngân sách hoạt động của cơ quan điều tiết. Đây được xem là các yếu tố chủ chốt trong việc đảm bảo sự vận hành có hiệu quả của cơ quan điều tiết [66]. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN LỰC Là một quốc gia đang phát triển, có thể chế kinh tế, chính trị mang nhiều đặc thù và là một trong những quốc gia trong nhóm thu nhập trung bình thấp có tăng trưởng kinh tế ấn tượng nhất trong gần hai thập kỷ qua, Việt Nam có những bài toán, vấn đề liên quan đến phát triển hạ tầng điện lực phức tạp và riêng biệt so với nhiều quốc gia khác.
Các nghiên cứu được thực hiện theo các cách tiếp cận truyền thống về phát triển cung - cầu cho TTĐ thông qua quy hoạch phát triển điện lực, cơ 18 chế quản lý nhu cầu điện, cơ chế giá. Gần đây, các học giả đã xem xét sâu hơn về các cơ chế, nền tảng cạnh tranh cho TTĐ thông qua các đề xuất hoặc nghiên cứu về thiết kế các hình thái cạnh tranh cho khâu sản xuất điện (thị trường phát điện), khâu bán buôn điện (thị trường bán buôn điện) và khâu phân phối, bán lẻ điện (thị trường bán lẻ điện). Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã bàn luận về các định hướng, giải pháp phát triển cung điện năng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong đó có các đánh giá về tiềm năng khai thác nguồn NLTT, cơ chế thúc đẩy đầu tư tư nhân hay khả năng can thiệp của Nhà nước vào thị trường thông qua cơ chế giá mua hoặc bao tiêu cho đầu ra của các nhà máy điện tái tạo. Các lý thuyết kinh điển hoặc kinh nghiệm tại các nước phát triển về xây dựng và phát triển TTĐ đều được nghiên cứu và áp dụng từng bước, một cách thận trọng, xem xét kỹ lưỡng tất cả các đặc điểm về thể chế, trình độ phát triển, cách thức vận hành bộ máy quản lý và các thành viên tham gia TTĐ tại Việt Nam.
Đây cũng là xu hướng chung đối với các nghiên cứu trong nước về xây dựng và phát triển TTĐ tại Việt Nam. Nghiên cứu về phát triển và bảo đảm cân bằng cung-cầu điện năng Về cơ sở khoa học đối với phát triển và bảo đảm cân bằng cung - cầu điện năng trong đó định hướng chính sách phát triển nguồn điện năng trong nước, các nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề về những yếu kém nội tại của hệ thống năng lượng Việt Nam nói chung và ngành điện nói riêng, bao gồm các khâu từ khai thác, sản xuất, biến đổi, truyền tải và sử dụng điện năng, định hướng và khung chính sách phát triển nguồn điện năng theo hướng phát triển bền vững, trong vai trò là một ngành chủ lực của hệ thống kết cấu hạ tầng. Trình độ phát triển của ngành vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập, đồ ng thời phải đố i mă ̣t với nhiề u thách thức cả nội tại và khách quan như: hiệu suất chung của ngành điện còn thấp; hiệu quả sản xuất kinh doanh của các cơ sở năng lượng chưa cao; cơ chế điều hành giá điện còn nhiều bất cập; trạng thái an ninh năng lượng quốc gia chưa đảm bảo và cơ chế quản lý ngành ở cấp quốc gia thiếu tính tổng thể [18].