Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển thị trƣờng chuyển giao công nghệ Chương 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3. Thị trƣờng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và sự tham gia các tổ chức trung gian tại Thanh Hóa Chương 4.
Đề xuất các giải pháp phát triển thị trƣờng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới coi công nghệ là một biến số làm tăng trƣởng phát triển kinh tế - xã hội (Trần Văn Bình và cộng sự, 2016). Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xung quanh đề tài phát triển thị trƣờng công nghệ. Thông qua việc tổng quan lại những nghiên cứu và lý thuyết về thị trƣờng công nghệ và những chính sách công liên quan, Barry Bozeman (2000) khẳng định chuyển giao công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển nền kinh tế thị trƣờng, nâng cao năng lực quốc gia, góp phần đem lại hiệu quả chính trị. So sánh với nó, nghiên cứu của David J.
Teece (1981) lại tập trung làm rõ những bản chất của thị trƣờng và khái quát hóa vận động của thị trƣờng công nghệ. Tuy nhiên, nghiên cứu này và phần lớn các nghiên cứu khác trong đó có Anna Shaojie Cui và cộng sự (2006), Amy Jocelyn Glass và cộng sự (2002), và Edwin Mansfield và cộng sự (1980) đều hƣớng tới việc đề cao vai trò của các công ty xuyên quốc góp phần làm phát triển TTCGCN. Cụ thể hơn, David J. Teece (1976, 1981) đã đƣa ra những bằng chứng xác thực về việc chuyển giao công nghệ của các công ty xuyên quốc gia của Mỹ trong giai đoạn hiện thời và chỉ ra vai trò vô cùng quan trọng của những công ty xuyên quốc gia đó.
Đáng chú ý, tác giả cũng đi sâu tìm hiểu những quy định trong xuất nhập khẩu công nghệ và đi tới kết luận rằng những chính sách, quy định này chƣa thực sự phát huy hiệu quả trong việc khuyến khích phát triển việc chuyển giao công nghệ. Tƣơng tự nhƣ vậy, Anna Shaojie Cui và cộng sự (2006) cũng nhấn mạnh chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn đa quốc gia 7 cho các chi nhánh tại địa phƣơng là rất cần thiết và quan trọng đối với năng suất và thành công của chi nhánh tại địa phƣơng. Điều khác biệt là các tác giả lại tiếp cận theo hƣớng phân tích tác động của thị trƣờng và các nhân tố văn hóa môi trƣờng tới quá trình chuyển giao công nghệ này và hiệu quả của nó thông qua việc khảo sát 131 nhà quản lý ở các chi nhánh tại địa phƣơng. Khác với nghiên cứu của Anna Shaojie Cui và cộng sự (2006), nghiên cứu của Edwin Mansfield và cộng sự (1980) còn chỉ ra đƣợc bản chất của công nghệ đƣợc chuyển giao từ các công ty đa quốc gia có trụ sở tại Mỹ và tác động của việc chuyển giao công nghệ này tới các đổi thủ cạnh tranh của công ty của Mỹ, tới các quốc gia khác (quốc gia nhận công nghệ).
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu trên thế giới đang dành nhiều sự quan tâm tới việc phát triển thị trƣờng công nghệ nhƣng phạm vi nghiên cứu đã đƣợc thu hẹp về việc chuyển giao công nghệ của các công ty xuyên quốc gia. Chính vì vậy, không có nhiều tài liệu khoa học nghiên cứu về phát triển thị trƣờng CGCN ở quy mô quốc gia và ở địa phƣơng cụ thể. Ở Việt Nam, nhìn nhận mục tiêu phát triển thị trƣờng chuyển giao công nghệ gắn liền với nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế Việt Nam, đề tài này đã thu hút sự quan tâm của các ngành, học giả, nhà nghiên cứu cũng nhƣ doanh nghiệp. Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các phƣơng pháp luận đánh giá trình độ công nghệ (Vũ Trƣờng Sơn và cộng sự, 2016); các hoạt động đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ và trình độ công nghệ hiện nay của các doanh nghiệp của địa phƣơng (Phan Tuấn Anh, 2016; Nguyễn Đức Kiên, 2016).
Hay trong nghiên cứu của Tạ Việt Dũng (2016) đánh giá trình độ công nghệ của một số ngành, lĩnh vực cụ thể thông qua việc xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình công nghệ và đổi mới công nghệ. Từ đó, các nghiên cứu đề ra một số giải pháp để nâng cao trình độ công nghệ. Trong nghiên cứu của 8 Nguyễn Mạnh An (2016), tác giả đã tìm ra những giải pháp để đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của tỉnh Thanh Hóa sau khi đánh giá trình độ công nghệ của ngành sản xuất trên địa bàn tỉnh. Tác giả cũng nhấn mạnh vào một số giải pháp, khuyến nghị đó là xác định rõ chiến lƣợc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng mối liên kết giữa trƣờng đại học và doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ; phát triển thị trƣờng KH&CN; chính sách, các chƣơng trình hỗ trợ đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ theo hƣớng vừa đầu tƣ cho nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có chất lƣợng đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của tỉnh Thanh Hóa; ƣu tiên nguồn lực tài chính đáng kể tập trung xây dựng các tổ chức khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Tƣơng tự, nghiên cứu của Nguyễn Đức Kiên (2016) cũng đƣa ra những giải pháp góp phần nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp tỉnh Bắc Giang. Các giải pháp đó là: Hình thành các khu công nghiệp tập trung có định hƣớng chuyên môn hóa theo mức độ ƣu tiên của tỉnh; Chú trọng giải quyết bài toán nguồn nhân lực; Tạo môi trƣờng pháp lý thông thoáng, thuận lợi để mọi thành phần kinh tế, mọi ngƣời dân huy động vốn, cùng có trách nhiệm chung khi đầu tƣ vào lĩnh vực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế địa phƣơng. Đặc biệt, trong nghiên cứu này tác giả đã đề cập tới giải pháp thành lập các Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật có nhiệm vụ tƣ vấn cho các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm các công nghệ phù hợp; Phát triển và hoàn thiện các ý tƣởng về sản phẩm, dịch vụ và cải tiến dây chuyền công nghệ sản xuất; Phát triển sản phẩm mới; Kiểm định chất lƣợng sản phẩm. Đây là thể coi là những dịch vụ hỗ trợ đƣợc triển khai bởi tổ chức trung gian để hỗ trợ DNVVN trên địa bàn.
Nhấn mạnh vào phát triển TTCGCN ở Thanh Hóa, Nguyễn Ngọc Túy (2016) tìm hiểu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp KH&CN ở Thanh 9 Hóa. Từ đó, tác giả chỉ ra những nguyên nhân của bất cập trong việc phát triển các doanh nghiệp KH&CN, khó khăn để hình thành các doanh nghiệp KH&CN ở Thanh Hóa. Từ đó tác giả đƣa ra những khuyến nghị cho Sở, Bộ KH&CN cũng nhƣ UBND tỉnh trong việc thúc đẩy sự hình thành của các doanh nghiệp KH&CN ở địa phƣơng. Nhƣ vậy tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu năng lực trình độ của các tổ chức KH&CN, các doanh nghiệp ở các địa phƣơng hoặc trong một số ngành cụ thể.
Theo một hƣớng khác, một số nghiên cứu lại chỉ đề cập tới các vấn đề chung của phát triển thị trƣờng khoa học công nghệ ở Việt Nam nhƣ nghiên cứu của Võ Hồng Vinh (2007). Chính vì vậy, các giải pháp đƣa ra trong các nghiên cứu này chỉ tập trung vào thúc đẩy hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN hoặc các giải pháp chung chung áp dụng cho việc phát triển TTCGCN tổng thế. Các nghiên cứu chƣa dành sự quan tâm tới vai trò và tầm quan trọng của những tổ chức trung gian trong phát triển TTCGCN. Cơ sở lý luận về phát triển thị trƣờng chuyển giao công nghệ 1.
Khái niệm về công nghệ Trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở Việt Nam, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, nhiều thuật ngữ kinh tế - kỹ thuật đã du nhập vào Việt Nam, trong số đó có thuật ngữ công nghệ. Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài ngƣời. Từ “Công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp (τεκηνε - Tekhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng và (λογοσ - logos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu. Nhƣ vậy thuật ngữ technology (Tiếng Anh) hay technologie (Tiếng Pháp) có nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật - thƣờng đƣợc gọi là công nghệ học.
Ở Việt Nam, cho đến nay công nghệ thƣờng đƣợc hiểu là quá 10 trình tiến hành một công đoạn sản xuất là thiết bị để thực hiện một công việc (do đó công nghệ thƣờng là tính từ của cụm thuật ngữ nhƣ: qui trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyển công nghệ). Cách hiểu này có xuất xứ từ định nghĩa trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trƣớc đây: “công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”. Theo những quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất. Hiện nay, thuật ngữ công nghệ phổ biến đến mức, mọi hành vi của con ngƣời đều đƣợc “công nghệ hóa”, kể cả những hành vi phi sản xuất nhƣ: Công nghệ chính trị, công nghệ giáo dục, công nghệ làm báo, công nghệ làm đẹp, v.v… Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (Luật số 29/2013/QH13) định nghĩa: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Ủy ban kinh tế xã hội châu Á - Thái Bình Dƣơng của Liên hợp quốc (ESCAP hay UNESCAP) định nghĩa: công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin (bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý và thông tin). Đồng thời, ESCAP đã chỉ ra bốn thành phần cơ bản của công nghệ, gồm: • Kỹ thuật (Techno ware): bao gồm các máy móc thiết bị hay các công cụ và phƣơng tiện kỹ thuật.