Chương 1: Lý luận và thực tiễn về phát triển thị trƣờng bảo hiểm tai nạn con ngƣời Chương 2: Thực trạng phát triển thị trƣờng bảo hiểm tai nạn con ngƣời tại công ty Bảo Minh Quảng Trị Chương 3: Giải pháp phát triển thị trƣờng bảo hiểm tai nạn con ngƣời tại công ty Bảo Minh Quảng Trị 8 PHẦN 2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM TAI NẠN CON NGƢỜI 1.1 Khái niệm về thị trƣờng và phát triển thị trƣờng 1.1 Thị trường Thị trƣờng vốn là khái niệm gắn với nền sản xuất hàng hóa có nhiều định nghĩa khác nhau tùy góc độ tiếp cận của từng lĩnh vực khoa học. Dƣới góc độ kinh tế học vi mô, Mankiw (2018, 66) định nghĩa: “Thị trƣờng là một tập hợp ngƣời mua và ngƣời bán một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể”.
Những ngƣời mua với tƣ cách là một nhóm xác định nhu cầu đối với sản phẩm và những ngƣời bán với tƣ cách là một nhóm xác định nguồn cung của sản phẩm. Theo quan điểm của Mankiw, thị trƣờng có thể có hai hình thái: (1) thị trƣờng đƣợc quản lý và (2) thị trƣờng ít đƣợc quản lý. Tiếp cận theo quan điểm Marketing, Kotler & Amstrong (2018, 33) định nghĩa: “Thị trƣờng là tập hợp những khách hàng hiện tại và tiềm năng của một hàng hóa, dịch vụ”. Thị trƣờng có liên quan đến khái niệm trao đổi và mối quan hệ, theo đó những ngƣời mua có nhu cầu có thể đƣợc thỏa mãn thông qua các mối quan hệ trao đổi.
Nhƣ vậy, quan điểm kinh tế học đƣa tập hợp ngƣời mua và ngƣời bán vào trong khái niệm thị trƣờng. Trong khi đó, quan điểm Marketing có sự tách biệt rõ ràng giữa ngƣời mua và ngƣời bán trong hai khái niệm thị trƣờng và ngành. Trong phạm vi đề tài này, liên quan đến việc nghiên cứu phát triển thị trƣờng cho sản phẩm và dịch vụ, nên tác giả sử dụng khái niệm thị trƣờng theo quan điểm của Marketing.2 Phát triển thị trường Theo Ansoff (1957), phát triển thị trƣờng là một chiến lƣợc, theo đó doanh nghiệp cố gắng điều chỉnh sản phẩm hiện có (với sự sửa đổi đặc tính sản phẩm) để đáp ứng những nhiệm vụ mới. Theo quan điểm của Kotler & Amstrong (2018), phát triển thị trƣờng là cách thức doanh nghiệp phát hiện những thị trƣờng mới cho những sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp.
Xây dựng các chiến lƣợc và hành động để phát triển thị trƣờng là một quy trình bao gồm nhiều loại hoạt động hết sức phức tạp. Nhiều nghiên cứu đã đề xuất cách phân chia cách thức phát triển thị trƣờng theo các giai đoạn. Kohli & Jaworski (1990) đề xuất quy trình phát triển thị trƣờng gồm các bƣớc nhƣ sau: Bước 1. Xây dựng hệ thống tình báo thị trƣờng Điểm khởi đầu của định hƣớng thị trƣờng là thông tin tình báo thị trƣờng.
Hệ thống này đƣợc phát triển thông qua các phƣơng tiện chính thức và không chính thức, nhằm mục đích tạo ra và cải thiện việc học hỏi của nhân viên về thị trƣờng, bao gồm các cuộc họp và thảo luận với khách hàng và đối tác kinh doanh, đánh giá báo cáo bán hàng, phân tích cơ sở dữ liệu khách hàng và các hoạt động khác. Phổ biến thông tin tình báo Có thể thấy rõ rằng việc đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng đòi hỏi sự tham gia của hầu nhƣ tất cả các bộ phận trong tổ chức nhƣ nghiên cứu và thiết kế (R&D) để thiết kế và phát triển một sản phẩm mới, sản xuất để trang bị và sản xuất sản phẩm, tài chính để tài trợ cho các hoạt động, v. Đáp ứng với thông tin thị trƣờng Một tổ chức có thể tạo ra thông tin tình báo và phổ biến nó trong nội bộ. Đáp ứng là hành động đƣợc thực hiện để đáp lại thông tin tình báo đƣợc tạo ra và phổ biến dƣới hình thức lựa chọn thị trƣờng mục tiêu, thiết kế và cung cấp các sản phẩm/dịch vụ đáp ứng nhu cầu hiện tại và dự kiến của khách hàng.
10 Javalgi & cộng sự (2006) cho rằng, thông tin thu thập đƣợc trong nghiên cứu thị trƣờng đóng vai trò định hƣớng thị trƣờng của doanh nghiệp. Nghiên cứu của các tác giả đề cập đến giai đoạn đầu của việc tìm hiểu thị trƣờng. Các tác giả đã chia quá trình định hƣớng thị trƣờng thành ba bƣớc: Bước 1. Xác định vấn đề: bắt đầu bằng việc phân tích và mô tả tình huống mà doanh nghiệp muốn giải quyết.
Tạo lập thông tin tình báo: học và nghiên cứu để phát triển các kỹ thuật giải quyết vấn đề. Đề xuất các sáng kiến về sự hài lòng của dịch vụ: tạo ra các hành động để tiếp cận khách hàng một cách tích cực. Taghian (2010) cho rằng để xây dựng chiến lƣợc định hƣớng thị trƣờng, quy trình thực hiện cần trải qua các giai đoạn sau: Bước 1. Quy trình lập kế hoạch: lập kế hoạch định hƣớng thị trƣờng sẽ đƣợc thực hiện nhƣ thế nào.
Thông tin đƣợc sử dụng để phát triển chiến lƣợc thị trƣờng: thu thập, phân tích thông tin để xây dựng các hành động phát triển thị trƣờng. Ra quyết định quản lý: thiết lập quá trình ra quyết định quản lý liên quan đến các hành động sẽ đƣợc thực hiện. Raju & cộng sự (2011) cũng đề cập đến các giai đoạn của định hƣớng thị trƣờng gồm: (1) Tạo ra thông tin, (2) Phổ biến thông tin và (3) Khả năng phản hồi thông tin. Đề xuất của tác giả tƣơng tự Kohli & Jaworski (1990) tuy nhiên bƣớc 1 của tác giả chỉ tập trung vào quyền truy cập thông tin - phƣơng tiện chính để tạo ra các hành động phát triển thị trƣờng.
Dobni & Luffman (2003) xác định 3 giai đoạn phát triển thị trƣờng,gồm: Giai đoạn 1. Giai đoạn hành vi: định hƣớng thị trƣờng và việc học hỏi thị trƣờng của nhân viên và cách họ nên hành động với ngƣời tiêu dùng. Giai đoạn hành động: thời điểm mà các hoạt động phát triển thị 11 trƣờng đƣợc đƣa vào thực tế, củng cố tầm quan trọng của sự khác biệt hóa, đổi mới, tập trung và dẫn đầu về chi phí. Kết quả do các hoạt động phát triển thị trƣờng tạo ra đƣợc tính theo lợi tức đầu tƣ (ROI).
Gerhardt & cộng sự (2021) đề xuất 3 giai đoạn để phát triển thị trƣờng bao gồm: Giai đoạn 1. Sáng tạo: bắt đầu bằng quá trình, nguyên nhân đề cập đến các phƣơng pháp phân tích, lập kế hoạch và tạo ra các chiến lƣợc và hành động. Hành động: thể hiện bằng các hành động đƣợc thực hiện khi tiếp xúc với ngƣời tiêu dùng hoặc giữa nhân viên và các bên liên quan. Thể hiện kết quả: phản ánh các chiến lƣợc và hành động phát triển thị trƣờng.
Bảo hiểm và bảo hiểm tai nạn con ngƣời 1.1 Bảo hiểm Hiện không có định nghĩa duy nhất về bảo hiểm mà có thể đƣợc định nghĩa theo quan điểm của một số ngành nhƣ luật, kinh tế, lịch sử, khoa học tính toán, lý thuyết rủi ro và xã hội học (Rejda & McNamara, 2017). Theo Hiệp hội Bảo hiểm và Rủi ro Hoa Kỳ (2021), “Bảo hiểm là tập hợp các tổn thất ngẫu nhiên bằng cách chuyển giao rủi ro đó cho công ty bảo hiểm, những ngƣời đồng ý bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm cho những tổn thất đó, cung cấp các lợi ích bằng tiền khác khi xảy ra rủi ro hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro”. Vaughan & Vaughan (2014, 35) lại định nghĩa: “Nhìn từ góc độ cá nhân, bảo hiểm là một phƣơng tiện kinh tế mà theo đó cá nhân thay thế một khoản chi phí nhỏ nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổn thất tài chính lớn không chắc chắn (khoản dự phòng đƣợc bảo hiểm) sẽ tồn tại nếu nó không đƣợc bảo hiểm”. 12 Hồ Sỹ Sà (2000) nêu định nghĩa bảo hiểm dựa trên 2 quan điểm.
Theo đó, quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra. Luật kinh doanh bảo hiểm (2000) giải thích thuật ngữ bảo hiểm trong kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, bảo hiểm là hoạt động chuyển rủi ro từ bên mua sang bên bán thông qua mức phí bảo hiểm.2 Các loại hình bảo hiểm Theo quy định tại Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Sửa đổi bổ sung năm 2010) và Hƣớng dẫn tại Điều 4 Nghị định 73/2016/NĐ-CP, hiện nay có các loại bảo hiểm đƣợc phân loại nhƣ sau: Thứ nhất, bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm đƣợc sử dụng đối với trƣờng hợp liên quan đến việc ngƣời bảo hiểm sống hoặc chết, bao gồm các loại bảo hiểm sau: (1) Bảo hiểm trọn đời: Đây là hình thức bảo hiểm đƣợc ngƣời mua bảo hiểm lựa chọn cho trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm phát sinh sự kiện chết trong suốt cuộc đời của họ; (2) Bảo hiểm sinh kỳ: Ngƣợc lại với bảo hiểm tử kỳ, đây là loại bảo hiểm sử dụng trong trƣờng hợp ngƣời mua bảo hiểm ký hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm về sự kiện ngƣời đƣợc bảo hiểm sống đến thời hạn đƣợc thỏa thuận.