Chương I: Thi trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu và cơ hội của các còng ty kinh doanh bảo hiểm phỉ nhàn thọ tại Việt nam. Chương II: Phàn tích tình hình phát triển thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khàu của Công ty cô phân bảo hiem Nhà Rông Chương III: Giải pháp cơ bản phát triển thi trường bảo hiểm hàng hoá xuất nháp khẩu của Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rống oOo 6 Chương ĩ: THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ X(1ẤT NHỘP KHflCJ VÀ CO HỘI PHỨT TRIỂN CỦA cức CÔNG TY KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 1. Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu và thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Khái quát về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu a.
Khái quát về bảo hiểm thương mại. Như chúng ta đã biết trong cuộc sống, kinh doanh không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi. Nhiều lúc gặp phải những khó khăn, rủi ro không ngờ: thiên tai, thời tiết, tai nạn bất ngờ.Để hạn chế những rủi ro, bù đắp những thiệt hại tổn thất thì ngành bảo hiểm đã ra đời. Hay nói cách khác: Chính sự tồn tại các rủi ro là nguồn gốc phát sinh hoạt động dự trữ, bảo hiểm.
Có nhiều tác giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về bảo hiểm : Theo Irving Pfeffer: Bảo hiểm là một sách lược để giảm tính không chắc chắn của một bên gọi là người được bảo hiểm , thông qua sự chuyên 0-iao những rủi ro cá bièt tới một bên khác - Gọi là người nhận bao hièm , it nhất là một phần nào đó những thiệt hại kmh tế mà người được bảo hiểm bị tổn thất. Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Có thể thấy rất khó tìm ra một định nghĩa hoàn hảo có thể phản ánh được bản chất và bao quát đươc một lĩnh vực đa dang như bảo hiêm. Điêu co thế chấp nhân là chúng ta hãy nhìn nhận về bao hiểm từ một góc độ cán thiết, hữu ích cho mục đích nghiên cứu: 7 hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.
Mỗi sản phẩm đểu được qui định chi tiết tại các điều kiện cụ thể bao gồm những qui định chung, phạm vi bảo hiểm, phạm vi loại trừ, những rủi ro phụ và các thủ tục khiếu nại bổi thường. Vai trò và sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá ngày nay được thừa nhận là hoạt động cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong nước. Mở rộng xuất khẩu góp phần tăng thu nhập ngoại tệ cho ngân sách nhà nước, cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá cũng như tạo cơ sở cho phát triển hạ tầng.
Thực tế đã chứng minh không một quốc gia nào có thể sống riêng rẽ mà có đầy đủ mọi thứ hàng hoá. Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là một hoạt động không những rât cần thiết cho bất kỳ một nhà doanh nghiệp nào tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, cho hệ thống tài chính ngân hàng, cho hệ thống sản xuất kinh doanh mà cho cả nền kmh tế nói chung của quòc gia đo. Đối với những nước đang phát triển như Việt nam thì vai trò của hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu còn được thể hiện ờ những mặt sau: - Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu góp phần khống chế ở mức thâp nhất những rủi ro không thể lường trước được đối vơí những hàng hoá tham gia xuất nhập khẩu. - Làm giảm nguy cơ phá sản về mặt tài chmh cho các doanh nghiẹp kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu trong trường hợp gặp rủi ro, tổn thất.
- Góp phần làm ổn định nền kinh tế quốc gia. - Góp phần đảm bào an toàn cho hệ thông các ngành kinh tế trong nen kinh tế quốc dân. Bảo đảm cho sự phát triển vững chắc của một số ngành kinh tế: Ngân hàng, hàng hải .giữ vững đươc lợi thế so sánh của hàng hoá Việt nam trẽn thị trường quốc tế. - Hỗ trợ, tu vấn cho nhiều ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu phát triển ổn định, nâng cao chất lượng cua hàng hoá và dịch vu của Việt nam.
9 - Giải quyết việc làm cho nhiều lao động. - Đón* cróp một lượng tài chính vào ngân sách quốc gia. Vai trò của hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đối với các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu và đối với sự ổn định nền kinh tế nói chung là rất lớn, nhưng hiện nay thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt nam còn hạn chế cả về chiều rộng và chiều sâu. Thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.
Khái quát về thị trường. Thị trường là một phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hoá. Có rất nhiều quan điểm thị trường khác nhau được các nhà kmh tế học đưa ra. Theo quan điểm cổ điển thì thị trường được coi là cái chợ, là nơi mua bán hàng hoá mà ở đó cần có sự hiện diện của người bán, người mua và hàng hoá.
Có quan niệm lại cho rằng thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, giữa người mua và người bán, thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, lĩnh vực trao đổi mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá mua bán. Theo quan điểm hiện đại, thị trường được coi là tổng hoà mối quan hệ aiữa người mua và người bán, là nơi tổng hợp số cung và cầu về một loại hànơ hoá hoặc một tập hợp hàng hoá nào đó và nó được biểu hiện ra băng các hành vi mua bán hàng hoá thông qua các đơn vị tiền tệ nhằm giải quyết các mâu thuản về lợi ích của các thành viên tham gia thị trường. Thị trường là tổng thể những thoả thuận cho phép người hán và người mua cúc hàng hoá và dịch vụ gặp nhau thoả mãn các nhu cảu cho nhau. Thị trường biểu hiện trước hết là nơi diến ra các hành vi mua và bán hàng hoá.
Thực hiện hành vi nay luòn gắn liền với các chủ thể, các yêu tố như: Người bán. người mua, hàng hoá , tiền tệ, các điều kiện về vàt chát và 10 môi trường. Người bán là người sở hữu hàng hoá , dịch vụ, họ đến thị trường với mục đích là để bán hàng hoá. Do đó đối với họ, thị trường là tổng hợp những điểu kiện, yếu tố và môi trường để thực hiện giá trị hàng hoá nhằm thu về chi phí sản xuất và lợi nhuận dưới hình thức tiền tệ để bảo tồn và tái mở rộng sản xuất kinh doanh.
Người mua là người sở hữu tiền, mục đích của họ đến thị trường là để mua sắm hàng hoá, dịch vụ và để tiêu dùng sản xuât và tiêu dùng cá nhân. Đối với họ thì thị trường là tổng hợp những điều kiện, yếu tố và môi trường giúp họ có thể tìm thấy và thoả mãn các nhu cầu mua sắm hàng hoá , dịch vụ cho tiêu dùng phù hợp với khả năng thanh toán. Thông qua thị trường , người bán và người mua đều tìm thấy lợi ích kinh tế cho mình ở việc thoả mãn nhu cầu phía bên kia. Đây chính là động lực dẫn dắt họ gặp nhau và thực hiện được quan hệ kinh tế, điều hoà hợp lý các quan hệ lợi ích giữa họ với nhau.
Thị trường là nơi phản ánh thực chất các mối quan hệ trao đổi, mua bán dịch vụ. Các quan hệ này đều bị chi phôi bởi các qui luật của nền kinh tế thị trường như: Qui luật giá trị, qui luật cung cầu qui luật cạnh tranh, qui luật lưu thông tiền tệ.Cũng do vậy mà thị trường trở thành yếu tố khách quan tác động đến giá cả hàng hoá thông qua trao đổi, mua bán và chi trả dịch vụ. Đối với doanh nghiệp thì việc nghiên cứu thị trường và phát triển thị trường là một trong những yếu tố quyết định đến sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp. Việc phân loại thị tnrờng củng hết sức quan trọng và có thể theo một số tiêu thức sau: - Phân theo đối tượng sản phẩm mua hán trên thị trường : + Thị trường hàng hoá gồm hàng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dung.
+ Thị trường sức lao động. + Thị trường vốn( Thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường thuẻ mua). + Thị trường tiền tệ. + Thị trường dịch vụ.
+ Thị trượng chất xám. - Phản theo địa lý: + Thị trường địa phương + Thị trường toàn quốc + Thị trường khu vực. + Thị trường nước ngoài. - Căn cứ vào mức độ cạnh tranh của thị trường gồm: + Thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
+ Thị trường cạnh tranh độc quyền. + Thị trường độc quyền. - Căn cứ vào vai trò của thị trường đối với doanh nghiệp. 4- Thị trường chính.
+ Thị trường bổ sung. - Căn cứ vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp : + Thị trường đầu vào. + Thị trường đầu ra. - Phân theo khả năng đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của x ã hội: + Thị trường của doanh nghiệp : Bao gồm toàn bộ khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp.
Thị trường này được đo bằng doanh số thực tế. + Thị trường thực tế: Bao gồm toàn bộ khách hàng hiện tại của một loại sản phẩm, nghĩa là bao gồm thị trường của doanh nghiệp và thị trường cạnh tranh. + Thị trường tiềm nâng: Bao gổm toàn bộ khách hàng có khả năng mua sản phẩm( khả năng thanh toán vá các điều kiện khác). Như vậy, thị trường nàv bao gổm thị trường thưc tế và bộ phân khách hàng tiềm náng.
Đó là khácn hàns trong tương lai mà hiện tại nhu cầu của họ chưa thế đáp ứng đươc. + Thị trường lý thuyết: Bao gồm toàn bộ những người quan tâm đến sản phẩm. Trong thị trường lý thuyết có cả khách hàng hiện tại, khách hàng tương lai và cả những người không tiêu dùng tương đối. - Căn cứ vào hành vi người tiêu dùng.
- Căn cứ vào tập hợp đối tượng khách hàng. Việc phân loại thị trường góp phần cho doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầu từng thị trường, tạo cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp ở từng loại thị trường. Vấn để dặt ra là phải đánh giá từng loại thị trường và có sách lược, quyết định sẽ chú trọng vào thị trường nào.