phần mở đầu, kết luận, các công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh, tài liệu tham khảo và 4 phụ lục, luận án có kết cấu 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đền đề tài luận án và định hƣớng nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về phát triển thị trƣờng BHPNT địa phƣơng. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển thị trƣờng BHPNT tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2015.
Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp phát triển thị trƣờng BHPNT tỉnh Vĩnh phúc. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan niệm phát triển và thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ 1. Các công trình nghiên cứu về quan niệm phát triển.
Thuật ngữ “Phát triển” đƣợc dùng khá rộng rãi, nhƣng chƣa có quan điểm nào thống nhất. Trên mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, có những quan điểm khác nhau: * Theo giáo trình Triết học Mác –Lênin: Phát triển theo quan điểm biện chứng duy vật là sự vận động theo hƣớng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chƣa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật. [3] Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vận động là đề cập đến mọi biến đổi chung chung, chƣa nói lên khuynh hƣớng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất theo hƣớng hoàn thiện của sự vật. Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.[3] * Theo từ điển Oxford: Phát triển là sự gia tăng dần của sự vật để nó trở nên tiến bộ hơn, mạnh hơn”.[63] * Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin: Phát triển là sự mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh.[2] Hai khái niệm trên của phát triển bao hàm cả sự gia tăng về mặt lƣợng và chất, là nền tảng để đƣa ra khái niệm phát triển các lĩnh vực cụ thể trên cơ sở ý nghĩa đặc thù của mỗi lĩnh vực.
* Trong lĩnh vực xã hội: Theo quan điểm của PGS.TS Lƣu Văn An, Phát triển xã hội là kết quả mà xã hội đạt đƣợc khi tạo dựng đầy đủ khả năng cần thiết trong tổ chức các nguồn lực, tài lực và vật lực để khắc phục các thách thức và tranh thủ các cơ hội mà cuộc sống đem lại trong suốt tiến trình lịch sử.[1] * Trong lĩnh vực kinh tế: Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó gồm sự tăng trƣởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lƣợng cuộc sống. [2] 7 Khái niệm phát triển trong lĩnh vực xã hội và kinh tế cho thấy: Sự biến đổi về lƣợng trên lĩnh vực kinh tế là tiền đề vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội và sự biến đổi về chất trên lĩnh vực kinh tế thể hiện thông qua khả năng đảm bảo các mục tiêu an sinh xã hội và giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội khác. Nhƣ vậy, phát triển kinh tế bao hàm không chỉ sự thay đổi theo chiều hƣớng tích cực cả về mặt lƣợng và mặt chất kinh tế mà còn cả về xã hội và cấu trúc xã hội.
* Phát triển bền vững: - Trên thế giới. Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - UICN) với nội dung đơn giản ”Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tính đến những yếu tố xã hội và sinh thái, cơ sở tài nguyên sinh học và không sinh học và cũng phải tính đến những lợi ích và phiền phức của những giải pháp thay ngắn hạn và dài hạn”.[27] Năm 1987, Trong bản báo cáo của Uỷ ban Môi trƣờng và Phát triển thế giới với nhan đề “Tƣơng lai của chúng ta” (Báo cáo Brundtland) đã đƣa ra khái niệm: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con ngƣời những không tổn hại đến sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tƣơng lai”. Theo quan điểm này, phát triển bền vững có nghĩa là phát triển kinh tế hiệu quả trong mối quan hệ với công bằng xã hội và gìn giữ môi trƣờng. [43] Năm 1992, tại hội nghị thƣợng đỉnh của Liên Hiệp Quốc, gồm đại diện 179 nƣớc tham dự tại Rio de Janero (Braxin) đã thông qua chiến lƣợc phát triển bền vững và khẳng định rằng: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ mai sau”.
Mục tiêu cơ bản của phát triển bền vững đƣợc nêu trong hai Hội nghị thƣợng đỉnh Rio-92 và Johannesburg năm 2002 bao gồm ba mục tiêu: Mục tiêu về tính bền vững kinh tế: Phát triển kinh tế nhanh và an toàn, tức là sự tăng trƣởng và phát triển lành mạnh nền kinh tế phải đáp ứng đƣợc yêu cầu của 8 cuộc sống, nâng cao đời sống ngƣời dân, tránh đƣợc sự suy thoái hoặc đình trệ trong tƣơng lai, nhất là tình trạng nợ nần. Mục tiêu về tính bền vững xã hội: Đƣợc thể hiện ở công bằng xã hội và phát triển con ngƣời, lấy chỉ số HDI làm thƣớc đo cao nhất cho sự phát triển xã hội. Tức là tính bền vững thể hiện ở sự bình đẳng, việc đảm bảo về sức khoẻ, học vấn, cơ hội bình đẳng. Mục tiêu về tính bền vững môi trƣờng: Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện môi trƣờng theo hƣớng tích cực.
Đảm bảo cho môi trƣờng sống của con ngƣời trong lành và an toàn, đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa con ngƣời, xã hội và tự nhiên.[45] - Tại Việt Nam Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn môi trƣờng và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phƣơng hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tƣơng lai”.[52] Theo quan điểm của Giáo sƣ Trần Hữu Dũng, Giáo sƣ kinh tế học của Đại học Wright State tại Dayton, Ohio, Mỹ cho rằng: Ý niệm “Phát triển bền vững” nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác nhau, nhất là thiên nhiên. Nhƣng chỉ để ý đến mối liên hệ giữa môi trƣờng sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và tăng trƣởng kinh tế là chƣa khai thác hết sự quan trọng của ý niệm “bền vững”. Ý niệm này sẽ hữu ích hơn nếu áp dụng cùng hai thành tố khác của phát triển là văn hoá và xã hội.[24] Tại chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998, về tăng cƣờng công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trƣờng là một nội dung không thể tách rời trong đƣờng lối, chủ trƣơng và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tất các ngành, các cấp, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc.
Định hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam nêu bật những vấn đề đang đặt ra trong ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trƣờng; đã xác định khung thời gian để thực hiện và gắn trách nhiệm của các ngành, các địa phƣơng, các tổ chức và các nhóm xã hội; đã tính đến việc sử dụng các nguồn lực tổng hợp để thực hiện chiến lƣợc. Chính phủ cũng đã thành lập Hội đồng phát triển bền vững quốc gia để chỉ đạo, giám sát việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.[5] Theo quan điểm của tập đoàn Bảo Việt, “Chiến lƣợc phát triển bền vững tập trung vào việc thực hiện thành công mục tiêu tăng trƣởng kinh tế dài hạn, kết hợp với thực hiện các mục tiêu xã hội và môi trƣờng, đảm bảo hài hoà lợi ích các bên liên quan”. Theo đó, mục tiêu tăng trƣởng kinh tế thể hiện ở tăng trƣởng về doanh thu, lợi nhuận và đóng góp vào ngân sách qua nộp thuế, mục tiêu kinh tế là mục tiêu quan trọng nhất vì việc thực hiện mục tiêu này là điều kiện cần để thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trƣờng. Việc thực hiện mục tiêu kinh tế đƣợc kết hợp với thực hiện các mục tiêu khác về mặt xã hội và môi trƣờng nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích của các bên liên quan tới hoạt động trong hiện tại và tƣơng lai nhằm đảm bảo thực hiện chiến lƣợc phát triển dài hạn và bền vững của Bảo Việt.
[44] Ngoài ra, quan niệm phát triển bền vững còn đƣợc nêu ra tại rất nhiều hội thảo, hội nghị của các tổ chức, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp tại Việt Nam trong những năm qua. Và mặc dù có nhiều quan niệm về phát triển bền vững, song hầu hết các quan niệm đều đồng ý ba mục tiêu cơ bản của phát triển bền vững là (1) thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, trong mối quan hệ với (2) đảm bảo tính bền vững môi trƣờng sinh thái, và (3) đảm bảo công bằng xã hội. Lập luận về phát triển bền vững đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi, nhƣng lập luận về tính bền vững môi trƣờng thì ngay lập tức đã có đƣợc sự nhất trí rộng 10 rãi, quan niệm phát triển bền vững ngày nay đã trở thành tiêu chuẩn căn bản cho mọi hoạch định mục tiêu và chiến lƣợc phát triển.[21] Có thể thấy trên mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, các quan niệm về phát triển cũng khác nhau. Điều này cũng có nghĩa, khó có đƣợc hệ thống tiêu chí định lƣợng chính xác và thống nhất để đo lƣờng sự phát triển.
Các công trình nghiên cứu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ 1. Trên thế giới Luận án tiến sỹ của Tanveer Ahmad Darzi (2012), khoa Nghiên cứu Kinh doanh và Tài chính, trƣờng đại học Kaskmir, Ấn Độ nghiên cứu đề tài: "Hoạt động tài chính của ngành công nghiệp bảo hiểm trong thời kỳ hậu tự do hóa ở Ấn Độ".