Chương 1 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về chiến lược kinh doanh và quản trị chiến lược 1. Sự ra đời và phát triển lý thuyết về chiến lược kinh doanh Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự thời xa xưa, với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển chỉ huy trận đánh. Trong quân sự cũng có nhiều quan niệm về chiến lược.
Theo từ điển Larouse: “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng”, từ điển Webster New World Dictionary định nghĩa: ‘‘Chiến lược là khoa học của hoạch định và điều khiển các hoạt động về quân sự”. Theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã được phát triển sang các lĩnh vực khoa học khác như: Chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường … Trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, chiến lược phát triển muộn hơn vào nửa đầu thế kỉ XX. Đến những năm 1950 xuất hiện một số các chủ trương, ý tưởng hoạch định chiến lược trong các Doanh nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích các tiềm lực tài nguyên. Vào giai đoạn này môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp đã chứng kiến những biến đổi lớn: - Sự phát triển nhanh chóng của một xã hội tiêu dùng ngày càng đòi hỏi nhiều hơn, họ trở nên khó tính hơn, dẫn đến tính chất cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn.
- Xu thế quốc tế hoá các giao dịch kinh tế phát triển mạnh, trao đổi hàng hoá thông qua xuất nhập khẩu, đầu tư công nghiệp trực tiếp ra nước ngoài, các công ty liên doanh, liên kết kinh doanh phát triển mạnh. Ngày nay xuất hiện các tập đoàn kinh tế dưới nhiều hình thức, trong nhiều trường hợp đã nằm ngoài kiểm soát của Chính phủ. - Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và những ứng dụng của khoa học công nghệ vào sản xuất và quản lý diễn ra với tốc độ cao. Đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano… và ứng dụng của chúng trong các ngành công nghiệp đã làm đảo lộn hành vi, nếp nghĩ của nhiều mặt đời Phạm Xuân Trường Lớp 11A.QTKD-HL 4 Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội sống kinh tế xã hội.
Chu kì sống của sản phẩm ngày càng ngắn, mức độ rủi ro trong kinh doanh tăng cao. - Nguồn tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng và môi trường bị khai thác cạn kiệt dẫn đến những cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực này. Những lý do trên đã làm cho một môi trường kinh doanh có nhiều biến động, mức độ cạnh tranh gay gắt, phương thức cạnh tranh ngày càng lớn… Trong điều kiện như vậy các công ty đã nhận thấy rằng, quản lý nội bộ trước đây đã đưa họ đến thành công thì nay là điều kiện cần. Điều kiện đủ để một doanh nghiệp thành công giờ đây phụ thuộc nhiều vào khả năng phản ứng của nó trước những biến đổi của môi trường.
Các nhà nông nghiệp Nhật Bản đã sớm nhận thức điều đó, cuối những năm 1950 họ đã chú ý đến Marketing, các giải pháp con người tài chính đáp lại thay đổi của môi trường kinh doanh nên họ vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng đều đặn, trong khi đó nhiều công ty phương Tây đã rơi vào đình đốn trong sự say sưa quản lý nội bộ, hoàn thiện quy trình, thao tác, tiết kiệm thời gian, tăng năng suất lao động…, những điều mà trước đây đã dẫn họ đến thành công. Trong điều kiện đó, quản lý chiến lược đã xuất hiện như một cứu cánh trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp. Quản lý chiến lược là quản lý hành vi ứng xử của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh, xuất hiện trong điều kiện có cạnh tranh. Quản lý chiến lược là một nội dung quan trọng của quản trị doanh nghiệp nói chung, là biện pháp đảm bảo sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Khái niệm về chiến lược kinh doanh Có rất nhiều cách tiếp cận, nhìn nhận kinh doanh từ nhiều góc độ, mỗi cách tiếp cận đều cho ta một quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh. Theo Chandler (1962) của đại học Havard "Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này". Phạm Xuân Trường Lớp 11A.QTKD-HL 5 Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Theo Michael Porter (1980):" Chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo".
Theo Quinn (1980) "Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ" Có thể tóm lại, chiến lược phát triển của một tổ chức là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn của tổ chức đó. Những định nghĩa về chiến lược tuy khác nhau về cách thức diễn đạt do được rút ra từ những thực tiễn kinh tế xã hội khác nhau, nhưng vẫn bao hàm các nội dung: - Xác định tư tưởng chủ đạo, các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức. - Đưa ra và lựa chọn các phương án thực hiện. - Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó.
Quản trị chiến lược Cũng như khái niệm về chiến lược, khái niệm về quản trị chiến lược cũng đã đã được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau, mà phổ biến ở ba cách tiếp cận sau: Cách tiếp cận về môi trường: ‘Quản trị chiến lược là quá trình quyết định nhằm liên kết khả năng bên trong của tổ chức với các cơ hội và đe dọa bên ngoài“. Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp: ‘‘Quản trị chiến lược là một bộ những quyết định và những hành động quản trị ấn định thành tích dài hạn của một công ty“ Cách tiếp cận các hành động: ‘Quản trị chiến lược là tiến hành xem xét môi trường hiện tại và tương lại, tạo ra những mục tiêu của tổ chức, ra quyết định, thực thi những quyết định, nhằm đạt được mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai. Mỗi cách tiếp cận cho phép các nhà quản trị có những cách nhìn từ các góc độ khác nhau về quản trị chiến lược và từ các cách tiếp cận đó, ta có khái niệm về quản trị chiến lược: Phạm Xuân Trường Lớp 11A.QTKD-HL 6 Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội “Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như trong tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức, đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định để đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại và tương lai nhằm tăng thế lực cho doanh nghiệp“. Nhiệm vụ quản trị chiến lược Quản trị chiến lược bao gồm năm nhiệm vụ có quan hệ mật thiết với nhau: + Tạo lập một viễn cảnh chiến lược mô tả hình ảnh tương lai của công ty, nêu rõ công ty muốn hướng đến đâu, trở thành một công ty như thế nào? Chính điều này cung cấp định hướng dài hạn, chỉ rõ hình ảnh mà công ty muốn trở thành, truyền cho công ty cảm giác về hành động có mục đích.
+ Thiết lập các mục tiêu - chuyển hóa viễn cảnh chiến lược thành các kết quả thực hiện cụ thể mà công ty phải đạt được. + Xây dựng chiến lược để đạt được các mục tiêu mong muốn. + Thực thi và điều hành các chiến lược đã được lựa chọn một cách có hiệu lực và hiệu quả. + Đánh giá việc thực hiện và tiến hành các điều chỉnh về viễn cảnh, định hướng dài hạn, các mục tiêu, chiến lược hay sự thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm, các điều kiện thay đổi, các ý tưởng và các cơ hội mới.
Các loại chiến lược kinh doanh Có nhiều cách phân loại chiến lược kinh doanh. Tùy theo căn cứ phân loại mà hình thành các chiến lược khác nhau. Phân loại theo cấp xây dựng và quản lý chiến lược Căn cứ vào các phạm vi tác dụng của chiến lược, ta có thể phân loại chiến lược như sau: - Chiến lược chung (Chiến lược Công ty): Chiến lược chung thường đề cập những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài. Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn với doanh nghiệp.
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh hoặc lĩnh vực kinh doanh: Chủ yếu là các chiến lược canh tranh, cạnh tranh bằng giá thấp, bằng sự khác biệt về sản phẩm và Phạm Xuân Trường Lớp 11A.QTKD-HL 7 Luận văn thạc sỹ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội dịch vụ hoặc tạo ra một khúc chiến lược riêng. - Chiến lược bộ phận chức năng bao gồm: Chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược marketing, hệ thống thông tin, chiến lược nghiên cứu và phát triển… Chiến lược chung ở cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh của doanh nghiệp. Phân loại theo lĩnh vực Chiến lược của một doanh nghiệp là tập hợp các quyết định ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến vị trí của nó trong môi trường và vai trò của doanh nghiệp trong kiểm soát môi trường. Trong đó chiến lược sản xuất và thương mại là chiến lược có vai trò trung tâm là chiến lược cơ sở để xây dựng các chiến lược khác.
+ Chiến lược thương mại: Là tập hợp các chính sách dài hạn nhằm xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. + Chiến lược tài chính: Doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính để không ngừng củng cố và còn phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng đi lên. - Đầu tư vốn dài hạn vào đâu? Và bao nhiêu? Cho phù hợp với từng giai đoạn kinh doanh để đạt hiệu quả cao. - Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp khai thác là nguồn vốn nào? - Quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp luôn chủ động, sáng tạo, áp dụng luật kế toán vào việc chỉ đạo hạch toán kế toán sát sao năng động.
+ Chiến lược sản xuất: Là tập hợp các chính sách nhằm xác định loại sản phẩm cần sản xuất, số lượng từng loại và phân bổ phương tiện hay các nguồn sản xuất để sản xuất một cách có hiệu quả sản phẩm cung cấp cho thị trường.