Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIEM 1.1 Sự CẦN THIẾT NÂNG CAO KHẢ NÃNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIEM 1. Đặc trưng kinh doanh bảo hiểm Cũng như các hoạt động kinh doanh khác, kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm có những đặc trưng: kinh doanh bảo hiểm tuân theo những nguyên tắc: số đông, sàng lọc rủi ro, phân chia, trung thực tuyệt đối [19]. Chẳng hạn: * Chọn lọc rủi ro: Nguồn thu từ phí bảo hiểm là để bù đắp khi rủi ro xảy ra.
Do vậy, trước khi doanh nghiệp nhận bảo hiểm cũng như khách hàng yêu cầu bảo hiểm, đòi hỏi phải tính toán chặt chẽ với nhau về các loại rủi ro dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, để xác định các loại rủi ro; từ đó xác định loại rui ro nào thực hiện được bảo hiểm loại nào không,. Nên đây có thể coi là nguyên tắc không thể thiếu dược trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ được tính chất rủi ro của từng nhóm đối tượng bảo hiểm nhất định dể từ đó có được quyết định phù hợp đối với từng nhóm rủi ro về phí bảo hiểm, các nội dung, điều khoản bảo hiểm áp dụng. Điều này giúp doanh nghiệp bảo hiểm khống chế được tối đa những quyết định mạo hiểm, đảm báo an toàn trong kinh doanh và có được chính sách giá 5 hợp lý đảm bảo tính cạnh tranh và cao hơn hết đảm bảo được lợi ích cả hai bên - giữa khách hàng và doanh nghiệp.
* Lượng khách hàng là s ố đông: Hoạt động bảo hiểm mang đặc trưng là khi số lớn các đơn vị rủi ro tương tự nhau và độc lập với nhau tăng lên thì tính chính xác tương đối dự đoán về kết quả tương lai dựa vào các đon vị rủi ro đó cũng tăng lên. Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, khi số người được bảo hiểm càng lớn thì khả năng phát sinh tổn thất, thiệt hại trong thực tế càng gần với tần suất tổn thất và chi phí trung bình trên tổn thất mà người bảo hiểm có được từ thống kê rủi ro đã sử dụng để tính phí bảo hiểm đồng thời giúp doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo được an toàn tài chính, kinh doanh có hiệu quả và phát triển bền vững. * Phân chia, phân tán rủi ro: Khả năng tài chính của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm có giới hạn nhưng mức độ của tổn thất, đặc biệt là tổn thất mang tính chất thảm hoạ là rất lớn và không lường trước được. Để thực hiện được mục tiêu của kinh doanh bảo hiểm và đáp ứng được các loại yêu cầu về bảo hiểm của khách hàng.
Điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải có phương pháp thích hợp để người bảo hiểm sử dụng để đối phó với hiện tượng tích tụ, tập trung rủi ro trong một khu vực địa lý, hay một nhóm nghiệp vụ báo hiểm. 'V ì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm phải khai thác bảo hiểm trên một phạm vi rộng với sự đa dạng hoá các sản phẩm bảo hiểm và để tránh trường hợp tích tụ rủi ro trong cùng một sự cố. Và, các doanh nghiệp bảo hiểm thường sử dụng kỹ thuật phân chia rủi ro là đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm [20]. * Tính tru nạ thực tuyệt đối: Tính trung thức phải được coi là nguyên tắc cần phải tôn trọng ngay từ khi người bảo hiểm nghiên cứu dể soạn thảo hợp đồng bảo hiểm đến khi phát hành, khai thác bảo hiểm và thực hiện kinh doanh với khách hàng.
Trước hết nguyên tắc này đảm bảo quyền lợi của hai bên, đồng thời đặt ra một yêu cầu 6 với người tham gia bảo hiểm là phải khai báo rủi ro trung thực khi tham gia bảo hiểm giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm xác định mức phí phù hợp và rủi ro mà họ đảm nhận. Thêm vào đó các hành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khi thông báo, khai báo các thiệt hại, tổn thất đòi bồi thường sẽ được xử lý theo pháp luật. Nghiệp vụ hoạt động bảo hiểm. Tuỳ vào mục đích và mô hình tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm ở mỗi quốc gia mà tổ chức này ở mỗi quốc gia có những nghiệp vụ cụ thể.
Tuy nhiên, nhìn chung các tổ chức bảo hiểm hiểm trên thế giới đều thực hiện một số nghiệp vụ chính đó là: (1) Cấp thu hồi giấy chứng nhận bảo hiểm, yêu cầu đơn vị tham gia bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ với tư cách tham gia bảo hiểm; (2) nghiệp vụ kiểm tra tổ chức tham gia bảo hiểm; (3) nghiệp vụ giám sát tổ chức tham gia; (4) nghiệp vụ hỗ trợ khách hàng; (5) nghiệp vụ chi trả. Ngoài 5 nghiệp vụ chính này tổ chức bảo hiểm còn thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới công tác quản trị và điều hành để vận hành bộ máy tổ chức của mình. * Nghiệp vụ cấp, thu hồi Chứng nhận hảo hiểm: Yêu cầu đơn vị tham gia thực hiện nghĩa vụ với tư cách tham gia bảo hiểm nộp phí. Việc cấp chứng nhận bảo hiểm đồng nghĩa với việc doanh nghiệp bảo hiểm có quyền huy động vốn và việc thu hồi giấy phép cùng với thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng đồng nghĩa với việc doanh nghiêp không còn uy tín cũng như quyền thực hiện nghiệp vụ huy động vốn.
- Nghiệp vụ kiểm tra khách hàng: Thực hiện được mục tiêu đề ra, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bao hiểm cần tiến hành công tác kiểm tra khách hàng theo hai giác độ: Kiểm tra việc chấp hành các qui định về bao hiểm; Kiểm tra việc chấp hành các qui định đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. 7 Thông thường các qui định về bảo hiểm bao gồm: qui định về công khai và minh bạch các qui định về bảo hiểm qui định về cung cấp cho tổ chức bảo hiểm thông tin về tổ chức tham gia bảo hiểm, qui định về tính và nộp phí bảo hiểm. Để công tác kiểm tra khách hàng có hiệu quả, tổ chức bảo hiểm cần có qui trình, nội dung, trình tự kiểm tra có tính khoa học để sao cho công tác kiểm tra của tổ chức bảo hiểm trở thành cần thiết và hạn chế chồng chéo với công tác kiểm tra của các đơn vị chức năng khác. Nhằm hạn chế gánh nặng cho tổ chức bảo hiểm trong việc triển khai công tác kiểm tra, tổ chức bảo hiểm cần tạo ra cơ chế hoạt động có tác dụng kích thích tính tự giác tuân thủ kỷ cương của khách hàng.
* Nghiệp vụ ẹiám sát khách hàng: Công tác giám sát khách hàng tham gia bảo hiểm của tổ chức bảo hiểm được tiến hành thường xuyên trên cơ sở các nguồn thông tin về khách hàng tham gia bảo hiểm mà tổ chức bảo hiểm có được. Nội dung của nghiệp vụ giám sát là đánh giá hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm và từ đó đưa ra các khuyến nghị uốn nắn hoạt động của các tổ chức đó với mục đích đảm bảo tuân thủ các qui định về bảo hiểm và qui định về an toàn trong hoạt động kinh doan của khách hàng. Hoạt động giám sát của tổ chức doanh nghiệp bảo hiểm còn là cơ sở để tiến hành nghiệp vụ kiểm tra khách hàng tham gia bảo hiểm. * Nghiệp vụ hỗ trợ khách hàng: Nghiệp vụ hỗ trợ khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm: hỗ trợ tài chính, hỗ trợ ổn định tổ chức (sáp nhập với doanh nghiệp khác), hỗ trợ kỹ năng hoạt động, hỗ trợ tuyên truyền, quảng bá về hoạt động bảo hiểm.
Kinh nghiệm của các tổ chức bảo hiểm thành công trên thế giới cho thấy các hoạt động hỗ trợ khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mục đích duy trì và phát huy tính ổn định và an toàn trong hoạt động của khách hàng. 8 Hỗ trợ khách hàng có nhiều loại hỗ trợ, nhìn chung gồm: Hỗ trợ tài chính đối với các khách hàng tham gia bảo hiểm thông qua các hình thức cho vay hỗ trợ khi các khách hàng này có khó khăn về khả năng thanh khoản và thanh toán; mua các tài sản có, đặc biệt là tài sản có chưa đến hạn thanh toán để củng cố khả năng thanh khoản của họ; bảo lãnh cho khách hàng tham gia bảo hiểm đi vay vốn tại đơn vị khác. Hỗ trợ tái cấu trúc đối với các khách hàng tham gia bảo hiểm. Qua kiểm tra và giám sát phát hiện khách hàng tham gia bảo hiểm có khó khăn trong quản lý điều hành, ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh và tính an toàn đối với tiền gửi tại khách hàng đó.
Từ đó, doanh nghiệp bảo hiểm có phương án hỗ trợ để ổn định và nâng cấp khả năng quản lý cho khách hàng tham gia bảo hiểm trên cơ sở đưa ra các khuyến cáo đổi mới cơ cấu tổ chức hoặc tìm đối tác là các ngân hàng có khả năng và hoạt động tốt để dàn xếp việc sáp nhập, liên kết để khắc phục các tồn tại. Hỗ trợ kỹ năng hoạt động trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng đối với khách hnàg tham gia bảo hiểm. Hoạt động này có thể được tiến hành thường xuyên theo các hình thức sau: - Tổ chức trao đổi cán bộ giữa các đơn vị để nhân rộng các hoạt động có hiệu quả và tạo điều kiện đào tạo cán bộ nhưng vẫn duy trì được hoạt động bình thường của khách hàng tham gia bảo hiểm; - Tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức của khách hàng chức tham gia bảo hiểm; - Cử cán bộ có khả năng của doanh nghiệp bảo hiểm làm việc và hướng dẫn khách hàng, dặc biệt là trong trường hợp khách hàng đang có khó khăn trong việc duy trì hoạt động. * Nạhiệp vụ chi trả hảo hiểm: Chi trả bảo hiểm xảy ra khi khách hàng chức tham gia bảo hiểm bị chấm dứt hoạt động và bị mất khá năng thanh toán.