CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM 1. Khái niệm kinh doanh bảo hiểm Trong khi khái niệm “bảo hiểm” có thể được tìm thấy trong rất nhiều nghiên cứu, thì khái niệm “KDBH” lại rất ít được đề cập. Theo Dennis Kessler (1994): “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”. Mishra (1995): “Bảo hiểm là hoạt động trong đó một bên (người bảo hiểm) cam kết sẽ chi trả cho bên kia (người năm giữ hợp đồng bảo hiểm) một số tiền nhất định khi xảy ra sự kiện rủi ro được bảo hiểm”.
Theo Nguyễn Phong (1988): “Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự đoán được”. Theo Luật KDBH Việt Nam (2000): “KDBH là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Các sản phẩm bảo hiểm Tại Khoản 3 Điều 1 của Luật số 61/2010/QH12 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật KDBH Việt Nam quy định các nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm như sau: Bảo hiểm nhân thọ bao gồm: Bảo hiểm trọn đời; Bảo hiểm sinh kỳ; Bảo hiểm tử kỳ; Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm trả tiền định kỳ; Bảo hiểm liên kết đầu tư; Bảo hiểm hưu trí. Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không; Bảo hiểm hàng không; Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy, nổ; Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; Bảo hiểm trách nhiệm; Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; Bảo hiểm nông nghiệp.
13 Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm: Bảo hiểm tai nạn con người; Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ. Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do Chính phủ quy định. Vai trò của kinh doanh bảo hiểm Trong thời đại ngày nay khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động KDBH đã trở thành một ngành kinh doanh hấp dẫn, thu hút đươc sự tham gia đông đảo của các DN, các tổ chức và dân cư. Bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò quan trọng đối với đời sống của con người.
Điều này được thể hiện bởi vai trò quan trọng của bảo hiểm với tư cách là một loại hình dịch vụ tài chính và là một trong những cơ chế giúp đảm bảo an sinh xã hội trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động KDBH không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội, đặc biệt là đối với KH. Những lợi ích kinh tế và công dụng xã hội của hoạt động KDBH được thể hiện trên các mặt chủ yếu như sau: Đối với khách hàng Hoạt động KDBH trước tiên là nhằm khắc phục hậu quả của những rủi ro. Bảo hiểm vận hành dựa trên như một cơ chế chuyển giao rủi ro.
Khi tham gia đóng phí bảo hiểm, người được tham gia bảo hiểm đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về mặt tài chính sang cho công ty bảo hiểm. Hậu quả của rủi ro có nhiều dạng và nói chung đều liên quan đến khía cạnh tài chính – phát sinh các khoản chi phí, chi tiêu bất thường mà người mua bảo hiểm phải gánh chịu. Khi ấy sự có mặt của các tổ chức bảo hiểm là để cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho KH đáp ứng nhu cầu đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trước rủi ro đối với họ, tạo cho KH sự an tâm hơn về mặt tinh thần. Việc nhận được khoản bồi thường, khoản tiền bảo hiểm được trả từ bên bảo hiểm sẽ giúp các tổ chức bảo toàn vốn liếng tài sản, các cá nhân và gia đình khắc phục khó khăn và không phải rơi vào tình trạng kiệt quệ về vật chất lẫn tinh thần.
Hơn nữa, khi tham gia bảo hiểm, KH có thể chủ động về mặt chi phí. Bằng việc đóng những khoản phí bảo hiểm (rất nhỏ so với những thiệt hại, tổn thất khi rủi ro xảy ra), KH sẽ được đảm bảo an toàn bởi các công ty bảo hiểm. Đối với KH doanh nghiệp: Nếu người giám đốc quan tâm, tham gia bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm hỗn hợp cho cán bộ công nhân viên thì không chỉ lãnh đạo đơn vị mà mọi thành viên sẽ yên tâm làm việc, phát triển sản xuất kinh doanh. 14 Bên cạnh đó, các tổ chức bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người.
Ngoài ra, bảo hiểm đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của mỗi cá nhân, chủ hộ gia đình, chủ DN. Bởi vì, họ phải suy nghĩ, tính toán và dần dã từ đó sẽ có một ý thức, thói quen về việc giành ra một khoản thu nhập để có một sự an toàn trong tương lai cho chính mình và các bên liên quan. (Nguồn: Bảo hiểm Bảo Việt, 2016) Đối với các ngân hàng Trong thời gian qua và hiện nay, các DNBH đã bắt đầu hợp tác với các NH trong việc thu phí, điển hình là sự hợp tác giữa Bảo Minh với NH TMCP Ngoại Thương Việt Nam, giữa Prudential với NH Á Châu… Hiện tại, một số NH đã chính thức đi vào hoạt động dịch vụ tư vấn bảo hiểm nhân thọ cùng với các sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú với nhiều hình thức đóng phí linh hoạt và tạo ra những điều kiện thuận tiện hơn cho KH Từ đó, giúp cho thương hiệu của NH được biết đến nhiều hơn, đa dạng hoạt động kinh doanh của NH, mở rộng danh mục sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh do tăng doanh thu và có cơ hội bán chéo sản phẩm. Đồng thời, NH có thể tăng doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ NH cho KH mua bảo hiểm; Tận dụng cơ sở KH, mối quan hệ dài hạn với KH, NH sẽ có thêm những KH mới (KH từ công ty bảo hiểm); Tăng năng suất hoạt động của nhân viên NH thông qua việc cung cấp thêm các sản phẩm bảo hiểm, do vậy giúp giảm chi phí cố định một cách tương đối cho NH.
Đồng thời, nhân viên NH cũng có thêm động lực làm việc và có khoản thu nhập cao hơn; Giúp tăng nguồn vốn huy động của NH từ phía bảo hiểm; Bên cạnh đó, sự gắn kết giữa NH và công ty bảo hiểm giúp NH quảng bá thương hiệu, duy trì và phát triển cơ sở KH do KH tin tưởng và trung thành hơn với NH. Từ đó, làm tăng uy tín và vị thế cho các NH. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm Một trong những đặc điểm của hoạt động KDBH là phí nộp trước, việc bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm chỉ được thực hiện khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra. Do vậy, các DNBH có một quỹ tiền tệ tập trung khá lớn và cần phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm.
Khi ấy, các 15 DNBH sẽ tiến hành đầu tư để phát triển kinh tế. Lượng vốn này sẽ được các DNBH tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả, bởi vì khả năng cạnh tranh của mỗi DNBH phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động đầu tư. Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các công ty sẽ có điều kiện giảm phí để từ đó thu hút KH, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. Các tổ chức bảo hiểm đầu tư vào nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau, trong đó có thị trường bất động sản, thị trường vốn và đặc biệt là thị trường chứng khoán.
Ví dụ: Bảo Việt hàng năm đã thực hiện đầu tư dưới nhiều hình thức trên thị trường tài chính Việt Nam: Bảo Việt tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán qua công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt; tham gia góp vốn vào Công ty vui chơi giải trí Hồ Tây, NH thương mại cổ phần hàng hải, NH thương mại cổ phần Á Châu; mua trái phiếu Kho bạc Nhà nước…(Nguồn: Bảo hiểm Bảo Việt, 2016). Với nền kinh tế - xã hội Sự phát triển của kinh tế thị trường đã tạo một môi trường kinh doanh cho các hoạt động bảo hiểm. Đồng thời, chính sự phát triển của ngành bảo hiểm đã khuyến khích sự phát triển chung của nền kinh tế với vai trò ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư. Vai trò ổn định tài chính: Đó là sự ổn định về thu nhập nếu tham gia BHXH, BHNT, BHYT hay BHTM.
Bởi lẽ, khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm, nếu bị tổn thất, các DNBH sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và tiếp tục vào việc sản xuất làm cho sản xuất kinh doanh hoạt động và phát triển bình thường. Vai trò đảm bảo cho các khoản đầu tư: Trong nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm đã trực tiếp đảm bảo cho các khoản đầu tư. Nhà kinh tế học người Pháp Jerome Yeatman đã viết: “Không phải các kiến trúc sư mà là các nhà bảo hiểm đã xây nên New York, chính là vì không một nhà đầu tư nào dám mạo hiểm hàng tỷ đô la cần thiết để xây dựng những tòa nhà chọc trời ở Manhattan mà lại không có đảm bảo được bồi thường nếu hỏa hoạn hoặc có sai phạm về xây dựng xảy ra. Chỉ có các nhà bảo hiểm mới dám đảm bảo điều đó nhờ cơ chế bảo hiểm”.
Bởi vậy, bảo hiểm là một hoạt động kích thích đầu tư, tạo ra một sự an toàn cho nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, ở nhiều quốc gia phát triển, các tổ chức bảo hiểm hoạt động rất mạnh mẽ trên thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đặc biệt là thị 16 trường vốn. Bảo hiểm là một trong những kênh huy động vốn rất hữu hiệu để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.