Chương 1. Tổng quan: Nêu lý do thực hiện nghiên cứu, đưa ra các thông tin tong quan liên quan đền đề tài nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết: Trình bày các cơ sở lý thuyết, các khái niệm, thông kê các nghiên cứu có liên quan, xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu từ những hạn chê của các nghiên cứu trước. Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu: Quy trình nghiên cứu, cách thức thu thập dữ liệu, cách thức xử lý dữ liệu, kết quả đánh giá thang đo sơ bộ bằng phần mềm SPSS 20.
Kết quả nghiên cứu: Trinh bày kết quả kiểm định mô hình thang đo sau khi phân tích dữ liệu băng phần mềm SPPS 20, AMOS 20. Thảo luận về các kết quả đạt được sau nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị. Trinh bày tóm tắt kết quả nghiên cứu đạt được, cùng với các kêt luận và kiên nghị cho nghiên cứu.
CHUONG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET Mục đích chương này đưa ra cơ sở lý thuyết, dé từ đó đưa ra các mô hình nghiên cứu và hình thành các giả thuyết thể hiện mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu. Nội dung chương này bao gom các khái niệm nghiên cứu, tóm tat các nghiên cứu trước có liên quan và những hạn chế của chúng dé chon ra cơ hội nghiên cứu cho dé tài này. Dựa trên cơ hội nghiên cứu sẽ hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thuyết.1 ĐỊNH NGHĨA CÁC KHÁI NIỆM: 2.1 Chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguyên vật liệu được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng, và giao cho khách hàng thông qua hệ thống phân phối, bán lẻ hoặc cả hai (Beamon, 1999) Một chuỗi cung ứng cơ bản được minh họa như sau: Nhà Nhà sản Nhà bán cung cấp xuât lẻ V A Dòng nhu cau, thông tin & tài chính Hình 2.1 Mô hình chuỗi cung ứng cơ ban’ Một khái niệm khác của chuỗi cung ứng được phát biểu như sau: Một mạng lưới các tổ chức có mối liên hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới (downstream) bao gom các quy trình va hoạt động khác nhau để tạo giá tri gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng Ì Nguồn: Vo, 2014 2.2 Các thành phan của chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng đơn giản bao gồm một công ty, nhà cung cấp và các khách hàng của công ty đó. Những chuỗi cung ứng mở rộng chứa ba nhóm thành viên.
Đầu tiên là nhà cung cấp của nhà cung cung cấp cuối cùng trong giai đoạn đầu của chuỗi. Cuối cùng là toàn bộ những công ty cung cấp dịch vụ giao nhận, tài chính, Marketing và công nghệ thông tin cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng. —7—” Information Flow a on aa Manufacturer Tier 2 Tier 1 Consumer/ Supplier 3 Supplier ` Cust Ty - End-Customer = BCSPurhsoicapenly CUSTOMER SERVICE MANAGEMENT DEMAND MANAGEMENT ORDER FULFILLMENT — _ MANUFACTU RING FLOW MANAGEMENT. ee PRODUCT DEVELOPMENTANDD COMMERCIALIZATION.3 Rui ro trong chuỗi cung ứng (Supply chain risk) Rủi ro là một khái niệm khó nắm bắt, dựng lên nó có nhiều nghĩa khác nhau, cách đo lường, sự giải thích phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu (Jemison,1987).
Có nhiều lý thuyết nghiên cứu về rủi ro trong lý thuyết về quyết định (Arrow,1965), tài chính (Altman,1968), maketing (Cox, 1967), quản lý (March và Shapira, 1987) và tam ly (Kahmeman và Tversky, 1979). Một vài nha nghiên cứu thực hiện trong lĩnh vực quan lý chuỗi cung ứng và định nghĩa ra rủi ro trong chuôi cung ứng. Và từ đó cũng tao ra những thảo luận về rủi ro * Nguồn: Lambert va Cooper (2000) một mặt cho rằng rủi ro hoàn toàn là sự đe dọa/ nguy hại, một quan điểm khác rủi ro vừa là nguy hại mà cũng là cơ hội (Mitchell, 1995). Theo lý thuyết quyết định cô điển và trong lĩnh vực như tài chính thì sự giao động quanh giá trị mong đợi được coi như là sự rủi ro.
Điều đó có nghĩa là rủi ro bang với giao động và hậu quả tiềm ân cho phan trên và phần dưới với mục tiêu. Theo sự xem xét đó, Juttner, Peck và Christoper (2003, P 200) đã định nghĩa rủi ro chuỗi cung ứng Sự dao động mà có thé dẫn đến kết quả của chuỗi cung ứng, khả năng nó có thé xảy ra và giá trị khi nó Xảy ra Ngược lại, có quan điểm cho rằng rủi ro thừa hưởng tiêu cực từ việc nhận thức của con người về nó, March và Shapira (1987) đã kiểm tra các nhà quản lý nhận thức về rủi ro và phản ứng như thé nào. Họ phát hiện ra rang phân lớn có xu hướng phóng đại phần nhược điểm một vài học giả trong quản lý chuỗi cung ứng và quản lý nguồn cung ứng chia sẻ quan điểm này. Harland, Brenchley, va Walker (2003, P 52) ví dụ Thảo luận 1 số định nghĩa và kết luận răng rủi ro chuỗi cung ứng liên kết với cơ hội nguy hiểm, thiệt hai, mat mát, tôn thương hoặc bat kỳ hậu quả không mong muôn khác Đối với mục đích của nghiên cứu này và xem xét các tác động của sự gián đoạn gan đây về chuỗi cung ứng, chúng ta thay rằng khái niệm sau rủi ro như hoàn toàn tiêu cực tương ứng tốt nhất để cung cấp cho chuỗi kinh doanh thực tế.
Vì lý do này, chúng ta sẽ xem xét không phải "thảm họa hạnh phúc" cũng không phải tình huống mà các nhà quan lý cô tình “đánh bac" trên rủi ro. Ở đây, chúng ta hiểu nguy cơ như là độ lệch tiêu cực từ các giá tri ky vọng cua một biện pháp hiệu quả nhất định, dẫn đến những hậu quả không mong muốn cho các công ty. Do đó, rủi ro được đánh đồng với những thiệt hại hoặc ton thất do sự gián đoạn chuỗi cung ứng.4 Sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng (Supply chain disruption) Trong nỗ lực để phân biệt rủi ro chuỗi cung ứng trước các rủi ro kinh doanh khác, nhiều học giả đã dé xuất các mô hình và / hoặc phân loại các rủi ro (Chopra và Sodhi, 2004; Christopher và Peck, 2004; Hallikas, Karvonen, Pulkkinen, Virolainen, va Tuominen, 2004; Jiittner, 2005; Jiittner , Peck, va Christopher, 2003; Norrman va Lindroth, 2004; Spekman va Davis năm 2004; Svensson, 2000). Cac loại gián đoạn chuỗi cung ứng thường được dán nhãn "nguồn rủi ro chuỗi cung ứng." Như vậy, Svensson (2000) đã xác định hai loại (định lượng và định tính), Jiittner (2005) mô tả ba (cung, cầu và môi trường), va Chopra Sodhi (2004) đề xuất chín loại (gián đoạn, sự chậm trễ, hệ thống, dự báo, sở hữu trí tuệ, mua sắm, các khoản phải thu, hàng tôn kho, và công suất).
Tổng kết lại sự gián đoạn chuỗi cung ứng như sự kết hợp của (1), sự kiện ngoài ý muốn bất thường gây ra ở đâu đó trong chuỗi cung ứng hoặc môi trường của nó, và (2) một tình huống đe dọa đáng kế hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Đối với các công ty bị ảnh hưởng, nó là một trường hợp ngoại lệ so với kinh doanh hàng ngày. Việc gián đoạn có một xác suất nhất định xảy ra và là đặc trưng bởi cả hai: Mức độ nghiêm trọng của nó và do tác động trực tiếp và gián tiếp của nó. Kê từ khi gây thiệt hại cho kết quả thường là một hàm của thời gian, sự gián đoạn chuỗi cung ứng liên quan đến áp lực thời gian, ngụ ý rằng các quyết định cho giảm thiểu phải được thực hiện nhanh chóng.
Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của nó, các điều khoản khác có thể được áp dụng, chắng hạn như, trục trac, roi loạn, tai nạn, thiên tai, hoặc khủng hoảng. Gian đoạn chuỗi cung ứng có thê hiện thực bên trong hoặc bên ngoài của một chudi cung ứng. Do đó, nó có thê rat khác nhau. Ví dụ, sự vỡ nợ của một nhà cung cap và một trận động đât phá hủy năng lực sản xuât là những tình huông với các thuộc tính hoàn toàn khác nhau và do đó có hiệu ứng khác nhau vê chuôi cung ứng.
Trong phan tiép theo, dé ngan gon, dé tai gọi là độ lệch tiêu cực từ các giá tri ky vọng trong đo lường hiệu quả (gây hậu quả tiêu cực đối với các công ty) là "rủi ro chuôi cung ứng" và độ lệch này là kêt quả cua một sự gián đoạn chuỗi cung ứng.2 NGUON RỦI RO Đối với mục đích nghiên cứu của dé tai này, dé tài sẽ phân chia các nguồn rủi ro chuỗi cung ứng thành năm lớp riêng biệt: (1) Bên nhu cầu ; (2) bên cung ứng; (3) quy định, pháp lý: (4) cơ sở hạ tầng: và (5) thảm họa. Hai loại nguồn nguy cơ đầu 10 tiên đôi phó với nguy cơ phôi hợp cung cau của nội bộ chuỗi cung ứng, Ba rủi ro sau tap trung vào các nguôn rủi ro mà không nhat thiệt phải đên nội bộ chuỗi.1 Rúi ro phía nhu cầu (Demand side risks) Rui ro phía cầu dan từ sự gián đoạn mới nổi từ các hoạt động chuỗi cung ứng downstream (Jiittner, 2005). Chúng bao gồm, một mặt, sự gián đoạn trong việc phân phối vật lý của sản phẩm cho khách hàng cuối thường trong hoạt động giao thông vận tải (vi dụ, một cuộc tan công tài xế xe tải) (McKinnon, 2006) và mạng lưới phân phối (ví dụ, một sự chậm trễ trong một trung tam phan phối ). Mặt khác, các rủi ro bên phía nhu cau có thé bắt nguồn từ sự không chắc chan do nhu cau không thé lường trước của khách hàng (Nagurney, Cruz, Dong, và Zhang, 2005).
Gián đoạn xảy ra ở đây từ không phù hợp giữa các dự báo của một công ty và nhu cầu thực tế cũng như từ sự phối hợp chuỗi cung ứng kém. Hậu quả của sự gián đoạn này là sự thiếu hụt tốn kém, lỗi thời, và công suất sử dụng không hiệu quả. Một vẫn dé quan trọng trong bối cảnh này, ảnh hưởng đến chất lượng dự báo, do đó đòi hỏi sự gián đoạn bên là hiệu ứng bullwhip, đặc trưng bởi một sự khuếch đại biến động nhu câu theo hướng ngược dòng của chuôi cung ứng. Trong đê tài này rủi ro phía nhu câu sẽ được định nghĩa là các rủi ro liên quan tới dong outbound logistic (bên ngoài) nhu câu san phâm, khách hàng ma sẽ gây ra sự gián đoạn trong dong inbound (bên trong).2 Rui ro phía nguồn cung (Supply side risks) Các doanh nghiệp được tiếp xúc với rất nhiều rủi ro liên quan với phía thượng nguôn của các chuỗi cung ứng của ho.
Rui ro phía nguồn cung cư trú trong thu mua, nhà cung cấp, các mối quan hệ nhà cung cấp, và các mạng lưới cung ứng.