Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đào Trung Hiếu, chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (mã số 93.105), được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Hữu Tráng. Đề tài tập trung nghiên cứu: "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa".
Về tính cấp thiết, phương thức kinh doanh đa cấp xuất hiện tại Mỹ vào đầu thế kỷ XX và du nhập vào Việt Nam từ năm 1998, được pháp luật thừa nhận thông qua Luật Cạnh tranh 2004 cùng các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 110/2005/NĐ-CP, Nghị định số 42/2014/NĐ-CP và Nghị định số 40/2018/NĐ-CP. Bên cạnh những đóng góp nhất định cho thương mại bán lẻ, lĩnh vực này đã phát sinh nhiều biến tướng phức tạp. Người phạm tội lợi dụng mô hình mạng lưới nhiều tầng, nhiều nhánh dưới các vỏ bọc như kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, tiền ảo, sản phẩm thông tin số, ủy thác đầu tư hoặc nhượng quyền để thu hút tài chính rồi chiếm đoạt. Bản chất của mô hình biến tướng là lấy tiền của người vào sau trả cho người vào trước, không tạo ra giá trị gia tăng và tất yếu dẫn đến đổ vỡ khi không còn người tham gia mới. Trong giai đoạn 2011 - 2020, cả nước đã phát hiện và xử lý 21 vụ án quy mô đặc biệt lớn với hàng nghìn tỷ đồng của hàng triệu người dân bị chiếm đoạt (điển hình như vụ Công ty Liên Kết Việt chiếm đoạt trên 1.000 tỷ đồng của khoảng 66.880 người; vụ Công ty TNHH Nhượng quyền thương mại Thăng Long chiếm đoạt hơn 706 tỷ đồng của khoảng 36.000 người). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận kinh doanh đa cấp dưới góc độ Kinh tế học, Khoa học quản lý, Luật Hành chính hoặc Luật Thương mại, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tiếp cận trên cả bình diện lý luận và thực tiễn tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp, nhằm bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận và đề xuất các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm bốn nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, kế thừa các giá trị khoa học và xác định những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp; phân tích các thông số về thực trạng, động thái, cơ cấu và tính chất để đánh giá thực tiễn tình hình tội phạm trong giai đoạn 2011 - 2020.
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam.
- Dự báo tình hình tội phạm và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm phòng ngừa tình hình tội phạm này trong những năm tiếp theo.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được chia theo ba phương diện:
- Về lý luận: (1) Nội hàm của khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp là gì? (2) Tội phạm này có những đặc điểm pháp lý gì? (3) Phân biệt tội này với tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp (Điều 217a BLHS) và tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS) ở những điểm nào? (4) Nội hàm khái niệm tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp là gì? (5) Khái niệm các thông số của tình hình tội phạm này là gì? (6) Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm này là gì? (7) Khái niệm giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm này là gì?
- Về thực tiễn: (1) Tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 diễn ra như thế nào? (2) Tình hình tội phạm này xuất phát từ các nguyên nhân và điều kiện nào? (3) Hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm này giai đoạn 2011 - 2020 có những ưu điểm và hạn chế gì? (4) Diễn biến của tình hình tội phạm trong những năm tiếp theo sẽ như thế nào?
- Về giải pháp phòng ngừa: (1) Hoạt động phòng ngừa tội phạm dựa trên những quan điểm, chủ trương nào của Đảng và cơ sở pháp lý nào của Nhà nước? (2) Cần áp dụng những giải pháp cụ thể nào để phòng ngừa hiệu quả tình hình tội phạm này?
Giả thuyết nghiên cứu của luận án bao gồm ba điểm:
- Chưa có hệ thống lý luận riêng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp và lý luận phòng ngừa loại tội này, đòi hỏi phải vận dụng cơ sở lý luận chung của Khoa học luật hình sự và Tội phạm học để làm sáng tỏ.
- Chưa có công trình làm rõ thực tiễn tình hình, nguyên nhân - điều kiện và thực trạng công tác phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 thông qua hệ thống số liệu thống kê tư pháp và khảo sát xã hội học.
- Việc kiểm soát và làm giảm tình trạng lừa đảo đa cấp đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống giải pháp phòng ngừa mang tính khoa học, đồng bộ và khả thi trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp, nguyên nhân, điều kiện và các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm này tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Giới hạn ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS 1999 (nay là Điều 174 BLHS 2015) gắn với phương thức kinh doanh đa cấp.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn các hành vi phạm tội đã bị xử lý hình sự trong 10 năm (2011 - 2020).
- Phạm vi đối tượng khảo sát: Người phạm tội, người bị hại, các nhóm xã hội liên quan, chủ thể ban hành chính sách (Chính phủ, Bộ Công thương...) và chủ thể thực thi giải pháp phòng ngừa (chính quyền các cấp, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án).
- Phạm vi không gian: Địa bàn toàn quốc, trọng tâm khảo sát tại các đô thị lớn là trung tâm của loại tội phạm này.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu nghiên cứu được tác giả phân chia thành các nhóm nghiên cứu trong nước và quốc tế:
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Về lý luận Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm: Công trình của Paul Lafargue (sách chuyên khảo Crime situation in France from 1840 to 1886 - Dynamics and causes) phân tích động thái và nguyên nhân tội phạm dựa trên thống kê tư pháp 47 năm; Melinikova E.B (Why did they commit crimes? The state of juvenile delinquency in capitalist countries) nghiên cứu nguyên nhân phạm tội từ thu nhập và phân tầng xã hội; Mus Ekrem (luận án Examining Violent and Property Crimes in the Provinces of Turkey for the Years of 2000 and 2007) khẳng định hoàn cảnh kinh tế là chỉ báo của tội phạm sở hữu; Hennessy Hayes và Tim Prenzler (An introduction to Crime and Criminology) tiếp cận từ khía cạnh nạn nhân học và môi trường sống. Về phòng ngừa, Minkovskij G.M (Justification of crime prevention) phân tích hệ thống biện pháp đồng bộ của toàn xã hội; GS.TS Can Ueda (Crime and Criminology in Japan) xem xét bản chất phòng ngừa là làm suy yếu các yếu tố thúc đẩy tội phạm; Lawrence A. Sherman (Preventing Crime: What Works, What Doesn’t, What’s Promising) nhấn mạnh đánh giá hiệu quả chương trình phòng ngừa; Brandon C. Welsh và David P. Farrington (The Oxford Handbook of Crime Prevention) đề cao chiến lược phòng ngừa sớm.
- Về kinh doanh đa cấp và tội phạm lừa đảo: Richard Poe (2003, Làn sóng thứ ba - kỷ nguyên mới trong ngành kinh doanh theo mạng), Don và Nancy Failla (2003, Kinh doanh theo mạng từ A đến Z), Kathyryn A. Jones (2013, Amway Forever), Dan Farrell (Multilevel Marketing - Good or Bad) phân tích các khía cạnh mô hình và mặt trái xã hội. Về lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Aneta (2010) nghiên cứu nhận dạng gian lận bảo hiểm; Nykodym và Kahle-Piasecki (Cyber crime and business) phân tích thủ đoạn lừa đảo kiểu Ponzi qua Internet tại Mỹ; Catherine H. Thomas và M. Ewen (Computer Crime) nghiên cứu việc sử dụng máy tính và mạng viễn thông để huy động tài chính đa cấp bất chính.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Về lý luận Tội phạm học: Giáo trình của GS.TS Võ Khánh Vinh (2013), công trình của PGS.TS Lê Thế Tiệm và Phạm Tự Phả (THTP là hệ thống các tội phạm); quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm (THTP là trạng thái, xu thế vận động của hiện tượng tội phạm); tổng thuật của PGS.TS Trần Hữu Tráng (2009); nghiên cứu về tội phạm ẩn của PGS.TS Dương Tuyết Miên (2010); lý luận về phòng ngừa và phân loại độ ẩn của GS.TS Đào Trí Úc.
- Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Luận án tiến sĩ của Lê Quang Thành (2016) về tội lừa đảo do người nước ngoài thực hiện giai đoạn 2005 - 2014; Bùi Thị Lan Hương (2018) về tội lừa đảo tại miền Đông Nam Bộ giai đoạn 2007 - 2017; Lê Đăng Doanh (2008) về đấu tranh chống tội lừa đảo giai đoạn 1996 - 2006; luận văn của Tạ Thùy Châu (2017) tại TP. Hồ Chí Minh; luận văn của Trần Thị Phương Hiền (2007).
- Về lĩnh vực kinh doanh đa cấp: Luận án tiến sĩ của Lê Bí Bo (2016) về quản lý nhà nước đối với bán hàng đa cấp từ 2004 đến 2016; đề tài của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (2005); luận văn của Hà Ngọc Sơn (2006) phân biệt bán hàng đa cấp hợp pháp với mô hình kim tự tháp (hình tháp ảo); bài báo của Bùi Trung Thướng (2015), Trần Thị Bảo Ánh (2006); các công bố chuyên đề của chính tác giả Đào Trung Hiếu (2018, 2019, 2020) trên các tạp chí Cảnh sát nhân dân, Công an nhân dân, Kiểm sát.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết là: Các công trình trước đây chỉ xem xét kinh doanh đa cấp dưới góc độ quản lý kinh tế, luật hành chính hoặc nghiên cứu tội lừa đảo nói chung. Chưa có công trình nào giải quyết toàn diện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp dưới góc độ chuyên ngành Tội phạm học, bao gồm hệ thống hóa khái niệm công cụ, phân tích thực trạng - động thái - cơ cấu - tính chất từ số liệu thực tế giai đoạn 2011 - 2020, làm rõ nguyên nhân từ góc độ nạn nhân học và xây dựng hệ thống giải pháp phòng ngừa chuyên biệt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Triết học Mác - Lênin), Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam về phòng chống tội phạm. Về cơ sở lý thuyết chuyên ngành, tác giả sử dụng:
- Lý thuyết Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm;
- Lý thuyết Luật học so sánh;
- Lý thuyết Xã hội học tội phạm;
- Lý thuyết Tâm lý học tội phạm;
- Lý thuyết về Tự do cạnh tranh;
- Lý thuyết về Hợp đồng.
Luận án sử dụng kết hợp 8 phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp hệ thống, nghiên cứu tài liệu: Thu thập văn bản pháp luật, báo cáo tổng kết, bản án, số liệu thống kê tư pháp để phân tích lý luận và thực tiễn (áp dụng tại Chương 1, 2, 3).
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích: Xây dựng hệ thống biểu mẫu phân tích các thông số định lượng và định tính của tội phạm giai đoạn 2011 - 2020 (áp dụng tại Chương 2, 3, 4).
- Phương pháp so sánh: So sánh tội phạm lừa đảo trong kinh doanh đa cấp với tội phạm lừa đảo chung và các tội xâm phạm sở hữu; so sánh mức độ vi phạm giữa các địa bàn đô thị và nông thôn (áp dụng chủ yếu tại Chương 2).
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Mổ xẻ hồ sơ các vụ án lớn (như vụ Liên Kết Việt, Thăng Long) nhằm làm rõ động cơ, phương thức, thủ đoạn, đặc điểm nhân thân và vai trò của nạn nhân (áp dụng tại Chương 2, 3).
- Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát các mô hình biến tướng mới trên không gian mạng và thực trạng tổ chức lực lượng phòng ngừa (áp dụng tại Chương 2, 4).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu hỏi lấy ý kiến các nhóm dân cư nông thôn, thành thị, sinh viên, người tham gia đa cấp, cán bộ tư pháp (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) và người phạm tội. Dữ liệu khảo sát được xử lý định lượng bằng phần mềm máy tính SPSS/PC (áp dụng tại Chương 2, 3).
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đúc kết các vấn đề có tính quy luật từ các báo cáo sơ kết, tổng kết chuyên đề của lực lượng Công an và ngành Công thương (áp dụng tại Chương 4).
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Trao đổi sâu với các nhà khoa học, chuyên gia lý luận và cán bộ thực tiễn giàu kinh nghiệm để nhận diện khó khăn, vướng mắc trong phòng ngừa (áp dụng tại Chương 3, 4).
Nguồn tư liệu, dữ liệu thực tiễn được thu thập trực tiếp từ: Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (C02), Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03), Văn phòng Cơ quan CSĐT (C01), Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) thuộc Bộ Công an; Công an các tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh, Nghệ An, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đắk Lắk, Tây Ninh; Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin - VKSND Tối cao; Vụ Tổng hợp - TAND Tối cao; TAND TP. Hà Nội; Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng - Bộ Công thương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính: Lý luận Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm; quy định pháp lý và tình hình xử lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; mô hình kinh doanh đa cấp và các biểu hiện biến tướng lừa đảo. Tác giả chỉ ra rằng lý luận Tội phạm học trong nước chưa có hệ thống khái niệm chuyên biệt để nghiên cứu tội lừa đảo trong kinh doanh đa cấp, phần lớn các công trình dừng lại ở góc độ luật hành chính, cạnh tranh hoặc kinh tế học đơn thuần. Trên cơ sở đó, tác giả xác định khung lý thuyết, xây dựng hệ thống 13 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam
Chương 2 giải quyết hai nhóm vấn đề: cơ sở lý luận về cấu thành tội phạm và thực tiễn diễn biến tình hình tội phạm giai đoạn 2011 - 2020.
- Về lý luận cấu thành:
- Khách thể: Trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người tham gia mạng lưới.
- Mặt khách quan: Đặc trưng bởi chuỗi hành vi gian dối đi trước (tạo dựng thông tin sai lệch về tư cách pháp nhân, quy mô, tiềm lực, lợi nhuận, trả hoa hồng cao bất thường nhằm thu hút người tham gia phát triển mạng lưới) và hành vi chiếm đoạt diễn ra sau (trích một phần trả lãi/hoa hồng tuyến trên nhằm duy trì hệ thống, chiếm đoạt phần lớn tiền góp vốn, đánh sập hệ thống, can thiệp thuật toán sàn giao dịch hoặc bỏ trốn). Hậu quả là thiệt hại vật chất từ 500.000 đồng trở lên (Điều 139 BLHS 1999) hoặc từ 2.000.000 đồng trở lên (Điều 174 BLHS 2015).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, có động cơ vụ lợi và mục đích chiếm đoạt tài sản hình thành từ trước hoặc trong quá trình vận hành hệ thống.
- Chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
- Về khái niệm tình hình tội phạm: Là hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính lịch sử, giai cấp và có giới hạn không gian - thời gian, biểu hiện qua tổng thể các hành vi phạm tội và người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn sử dụng phương thức kinh doanh đa cấp một cách gian dối, bất chính. Về độ ẩn, loại tội phạm này được xếp vào cấp độ II (nhóm tội phạm bị ẩn khuất thứ hai).
- Về các thông số thực tiễn (2011 - 2020):
- Toàn quốc đã xét xử sơ thẩm 21 vụ án với 59 bị can/người phạm tội về tội danh này. Bình quân xảy ra 2,1 vụ và 5,9 người phạm tội mỗi năm.
Bảng 1: Thống kê số vụ án và người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp (2011 - 2020)
| Năm |
Số vụ án |
Số người phạm tội |
| 2011 |
02 |
06 |
| 2012 |
01 |
03 |
| 2013 |
02 |
05 |
| 2014 |
01 |
04 |
| 2015 |
03 |
07 |
| 2016 |
02 |
06 |
| 2017 |
02 |
07 |
| 2018 |
02 |
06 |
| 2019 |
03 |
07 |
| 2020 |
03 |
08 |
| Tổng cộng |
21 |
59 |
- Tương quan so sánh: Trong tổng số 22.054 người phạm tội theo Điều 139 BLHS 1999, có 18 vụ / 47 người thuộc lĩnh vực đa cấp (chiếm 0,08% số vụ, 0,16% số người). Trong 1.583 vụ / 1.849 người phạm tội theo Điều 174 BLHS 2015, có 03 vụ / 12 người thuộc lĩnh vực đa cấp (chiếm 0,18% số vụ, 0,64% số người).
- Chuyển dịch tội danh công nghệ cao: Do mô hình đa cấp gắn với sàn ảo, tiền ảo, thương mại điện tử nên nhiều vụ án được xử lý theo Điều 226b BLHS 1999 (có 17/239 vụ, chiếm 7,11%; 35/303 người, chiếm 11,55%) và Điều 290 BLHS 2015 (có 6/85 vụ, chiếm 7,05%; 14/167 người, chiếm 8,38%). Chưa có vụ án nào bị xét xử theo Điều 217a BLHS 2015.
- Về địa bàn: 19/21 vụ xảy ra tại khu vực đô thị (chiếm 90,47% số vụ với 52 người phạm tội, chiếm 88,13%); chỉ có 2 vụ xảy ra tại nông thôn, miền núi (chiếm 9,52% số vụ với 7 người phạm tội, chiếm 11,86%).
- Về phương thức: 5 vụ huy động vốn đầu tư dự án (23,33%), 3 vụ kinh doanh dịch vụ và các vụ việc liên quan đến nhượng quyền thương mại, hàng hóa, tiền tệ số.
- Xử lý vi phạm hành chính: Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã xử lý 143 vụ vi phạm hành chính từ 2011 đến 2020 (năm 2011: 2 vụ, 2012: 4 vụ, 2013: 3 vụ, 2014: 14 vụ, 2015: 18 vụ, 2016: 18 vụ, 2017: 19 vụ, 2018: 41 vụ, 2019: 10 vụ, 2020: 13 vụ). Xử phạt tiêu biểu gồm: Công ty Thiên Sư (585 triệu đồng), New Image (250 triệu đồng), Morinda (605 triệu đồng và thu hồi giấy phép), Công ty CP Liên kết Việt Nam (250 triệu đồng), Thương mại Mỹ Lợi (710 triệu đồng), Thăng Long (460 triệu đồng vào năm 2016 trước khi bị xử lý hình sự năm 2017).
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp
Chương này phân tích các cơ sở lý luận và thực trạng nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020:
- Nguyên nhân kinh tế - xã hội: Mặt trái của nền kinh tế thị trường, áp lực thu nhập, thất nghiệp, chênh lệch giàu nghèo thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận cao trong thời gian ngắn.
- Nguyên nhân từ phía quản lý nhà nước và pháp luật: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn đầu còn nhiều kẽ hở; công tác cấp phép, hậu kiểm, thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý (ngành Công thương, Quản lý thị trường) ở cấp cơ sở còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế giám sát liên ngành hiệu quả; chế tài hành chính chưa đủ sức răn đe.
- Nguyên nhân từ phía người phạm tội: Đặc điểm nhân thân thể hiện sự suy thoái đạo đức, động cơ tham lam, lợi dụng sự hiểu biết về công nghệ thông tin, tâm lý đám đông và khả năng thao túng tâm lý để xây dựng các kịch bản lừa đảo tinh vi.
- Yếu tố nạn nhân học: Một bộ phận người dân thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kiến thức tài chính nhưng mang tâm lý hám lợi, mong muốn làm giàu nhanh chóng mà không phải lao động. Nhiều nạn nhân sau khi phát hiện bị lừa, vì muốn thu hồi vốn đã tiếp tục lôi kéo người thân, bạn bè tham gia, vô tình trở thành mắt xích mở rộng đường dây tội phạm.
Chương 4: Giải pháp phòng ngừa tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp tại Việt Nam
Chương này đưa ra dự báo xu hướng tội phạm gắn với Cách mạng công nghiệp 4.0 (dịch chuyển mạnh mẽ sang không gian mạng, tiền ảo, sàn giao dịch tài chính phi tập trung) và xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện:
- Giải pháp phòng ngừa xã hội: Nâng cao nhận thức của cộng đồng thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật và kỹ năng nhận diện thủ đoạn lừa đảo đa cấp; phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí; đẩy mạnh vai trò tự phòng ngừa của người dân.
- Giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách: Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật điều chỉnh phương thức kinh doanh đa cấp; xây dựng khung pháp lý quản lý tiền ảo, tài sản số; khắc phục sự chồng chéo trong quản lý chuyên ngành.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước: Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Bộ Công thương (Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Quản lý thị trường), Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước và chính quyền địa phương trong công tác giám sát, cấp phép, thanh tra và xử lý vi phạm.
- Giải pháp chuyên ngành của lực lượng Công an nhân dân: Nâng cao năng lực trinh sát không gian mạng (lực lượng A05, C02, C03); chủ động nắm tình hình các doanh nghiệp có dấu hiệu huy động vốn bất minh; phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án trong việc phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh nhằm răn đe tội phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam giải quyết trực tiếp tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp. Luận án đã:
- Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm "tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp" và "tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp".
- Phân tích cụ thể các đặc điểm pháp lý - hình sự, phân định ranh giới giữa tội danh này với Điều 217a (tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp) và Điều 290 BLHS 2015 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản).
- Bổ sung lý luận về cơ cấu, động thái, tính chất và độ ẩn của tội phạm kinh doanh đa cấp bất chính, gắn liền lý thuyết Tội phạm học với Nạn nhân học.
Về mặt thực tiễn, luận án đã:
- Tập hợp, bóc tách và phân tích hệ thống số liệu tư pháp thực tế gồm 21 vụ án với 59 bị can/người phạm tội được xét xử sơ thẩm trong 10 năm (2011 - 2020), làm rõ tương quan so sánh với tội phạm sở hữu chung và tội phạm công nghệ cao.
- Phân loại thực trạng vi phạm hành chính (143 vụ việc) và chỉ ra mối liên hệ giữa vi phạm hành chính với nguy cơ chuyển hóa thành tội phạm hình sự.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa chuyên ngành, trong đó nhấn mạnh giải pháp phòng ngừa từ phía nạn nhân và quản lý không gian mạng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ một số giới hạn và khó khăn trong quá trình nghiên cứu:
- Vấn đề bóc tách số liệu: Thống kê hình sự quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 không có mục thống kê riêng biệt cho tội lừa đảo trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp mà nằm gộp chung trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS 1999 / Điều 174 BLHS 2015) hoặc các tội phạm công nghệ cao (Điều 226b / Điều 290), dẫn đến việc thu thập dữ liệu phải đối chiếu thủ công qua nhiều nguồn.
- Độ ẩn của tội phạm: Tội phạm này có độ ẩn cao (thuộc cấp độ II). Nhiều nạn nhân không trình báo do tâm lý e ngại, xấu hổ hoặc cố tình che giấu để tìm cách thu hồi tiền từ tuyến dưới, khiến số liệu thống kê chưa phản ánh hết thực trạng diễn ra trong đời sống xã hội.
- Thực tiễn áp dụng Điều 217a BLHS 2015: Trong giai đoạn khảo sát, chưa có vụ án nào được đưa ra xét xử sơ thẩm theo tội danh này, hạn chế việc đánh giá thực tiễn áp dụng điều luật mới.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá tình hình tội phạm lừa đảo đa cấp trên các nền tảng công nghệ số mới (tiền mã hóa, DeFi, ngoại hối quốc tế, đầu tư tài chính online) và hoàn thiện cơ chế tố tụng nhằm nâng cao tỷ lệ thu hồi tài sản bị chiếm đoạt.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Cung cấp tư liệu khoa học, số liệu thống kê thực chứng phục vụ giảng dạy, học tập các chuyên đề Tội phạm học, Nạn nhân học và Khoa học luật hình sự.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công thương, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Sở Công thương các tỉnh): Tham khảo cơ sở thực tiễn để rà soát, hoàn thiện quy định quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp, kiểm soát chặt chẽ quy trình cấp phép và thanh tra hậu kiểm.
- Cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân): Cung cấp các tiêu chí phân biệt tội danh, nhận diện phương thức thủ đoạn mới trên không gian mạng và hỗ trợ định hướng điều tra, truy tố, xét xử các đại án kinh tế - công nghệ cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 2011 - 2020, cả nước đã phát hiện và xét xử sơ thẩm bao nhiêu vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp?
Trong 10 năm (2011 - 2020), toàn quốc đã phát hiện và đưa ra xét xử sơ thẩm 21 vụ án với 59 người phạm tội theo tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp. Bình quân mỗi năm xảy ra 2,1 vụ với 5,9 người phạm tội.
2. Hai vụ án lừa đảo kinh doanh đa cấp nào có quy mô thiệt hại và số lượng nạn nhân lớn nhất được luận án nêu tên điển hình?
Luận án nêu hai vụ án điển hình: Vụ án tại Công ty Liên Kết Việt (chiếm đoạt trên 1.000 tỷ đồng của khoảng 66.880 người tham gia) và vụ án tại Công ty TNHH Nhượng quyền thương mại Thăng Long (chiếm đoạt hơn 706 tỷ đồng của khoảng 36.000 người tham gia).
3. Cơ cấu tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp phân bố như thế nào theo địa bàn đô thị và nông thôn?
Trong 21 vụ án đã xét xử, địa bàn đô thị chiếm 19 vụ (90,47% số vụ) với 52 người phạm tội (88,13% tổng số người phạm tội). Địa bàn nông thôn, miền núi chỉ xảy ra 02 vụ (9,52% số vụ) với 07 người phạm tội (11,86% tổng số người phạm tội).
4. Luận án chỉ ra sự dịch chuyển định tội danh đối với các hành vi lừa đảo đa cấp công nghệ cao sang những điều luật nào của Bộ luật Hình sự?
Do hành vi lừa đảo đa cấp gắn với sản phẩm thông tin số (gian hàng ảo, vàng tài khoản, tiền ảo, sàn giao dịch online), các cơ quan tố tụng đã định tội theo Điều 226b BLHS 1999 (17 vụ / 35 người phạm tội trong lĩnh vực đa cấp) và Điều 290 BLHS 2015 (6 vụ / 14 người phạm tội trong lĩnh vực đa cấp).
5. Luận án sử dụng phần mềm nào để xử lý dữ liệu điều tra xã hội học?
Số liệu thu thập từ các phiếu điều tra xã hội học đối với các nhóm dân cư, cán bộ tư pháp và người phạm tội được tác giả xử lý trên máy vi tính bằng chương trình SPSS/PC (Statistical Package for the Social Sciences).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Trung Hiếu là công trình nghiên cứu hệ thống về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất pháp lý, các thông số định lượng và định tính của 21 vụ án sơ thẩm trong giai đoạn 2011 - 2020, chỉ ra nguyên nhân từ cả phía quản lý thể chế và yếu tố nạn nhân học. Trên cơ sở dự báo diễn biến tội phạm trong bối cảnh công nghệ số, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa toàn diện, có giá trị ứng dụng cho công tác lập pháp, quản lý nhà nước và hoạt động tư pháp.