Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Hiện nay các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án, có thể phân chia thành nhóm các công trình nghiên cứu lý luận dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa THTP; nhóm công trình nghiên cứu về KDĐC và tội lừa đảo CĐTS. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận Tội phạm học và phòng ngừa tình hình tội phạm 1. Nghiên cứu lý luận về tình hình tội phạm Sách chuyên khảo: “Crime situation in France from 1840 to 1886 - Dynamics and causes” (dịch: THTP ở Pháp từ năm 1840 đến năm 1886 - động thái và các nguyên nhân) của tác giả người Pháp Paul Lafargue.
Đây là công trình nghiên cứu khá công phu về THTP tại Pháp với khoảng thời gian khảo sát rất dài (47 năm). Bằng phương pháp của khoa học thống kê tư pháp và nghiên cứu tổng quan rất kỹ lưỡng, tác giả đã tiếp cận khảo sát và tiến hành đánh giá THTP gắn với đặc điểm tình hình xã hội. Tài liệu này đã được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là đặt nền móng cho sự hình thành, phát triển của khoa học Tội phạm học Mác xít [136]. Nghiên cứu lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm Sách chuyên khảo: “Why did they commit crimes? The state of juvenile deliquency in capitalist countries” - (dịch: Vì sao họ phạm tội? Tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội ở các nước tư bản chủ nghĩa) [133].
Đây là nghiên cứu chuyên sâu về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, tiếp cận từ yếu tố thu nhập, xem xét mối liên hệ giữa nhu cầu cá nhân với yếu tố thu nhập, hoàn cảnh sống, phân tầng xã hội, hố cách biệt giàu nghèo, những tác động tiêu cực của văn hóa suy đồi, bạo lực, sử dụng vũ khí…đối với việc hình thành các đặc điểm tâm lý người phạm tội…là những nội dung cơ bản trong nghiên cứu của tác giả Melinikova E.B; Luận án tiến sĩ: “Examining Violent and Property Crimes in the Provinces of Turkey for the Years of 2000 and 2007” - (dịch: Phân tích tội phạm có sự dụng bạo lực và xâm phạm tài sản ở một số tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ từ 2000 đến 2007) của Mus Ekrem [128]. Tác giả cho rằng hoàn cảnh sống (gia đình, cộng đồng) và tình trạng 8 luan an kinh tế là hai yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến nguyên nhân của tội phạm xâm phạm sở hữu và bạo lực. Theo đó, tình trạng gia đình có ảnh hưởng mạnh nhất đến tội phạm liên quan đến bạo lực, còn hoàn cảnh kinh tế là chỉ báo quan trọng, nhất của tội phạm liên quan đến sở hữu; Công trình chuyên khảo: “An introduction to Crime and Criminology” (dịch: Giới thiệu về tội phạm và tội phạm học) của các tác giả Hennessy Hayes và Tim Prenzler [129]. Nghiên cứu này chỉ ra nguyên nhân và điều kiện của tội phạm từ khía cạnh nạn nhân, từ môi trường sống, từ chính sách pháp luật của quốc gia, từ môi trường giáo dục tiêu biểu.
Đó là kết quả nghiên cứu đúc kết từ thực tiễn và tổng hợp những quan điểm khác nhau tại Australia trong lĩnh vực nghiên cứu về THTP, nhân thân người phạm tội…; 1. Nghiên cứu lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm Sách chuyên khảo: “Justification of crime prevention” (dịch: Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tình hình tội phạm), do Minkovskij G.M (chủ biên) [134] là nghiên cứu chuyên sâu về cơ sở lý luận của hoạt động phòng ngừa tội phạm. Theo tác giả, hoạt động phòng ngừa tội phạm bao gồm các biện pháp để loại trừ các hiện tượng tiêu cực, các điều kiện sống không lành mạnh và không ổn định…ra khỏi đời sống xã hội nhằm triệt tiêu những mầm mống làm nảy sinh tội phạm, giáo dục và cải tạo những người có thể phạm tội hoặc đã phạm tội, Bên cạnh đó phát triển các tiền đề cho việc nâng cao trình độ văn hoá của các thành viên trong xã hội, làm cho họ có thể phát huy được tính tích cực của mình. Hoạt động phòng ngừa tội phạm liên quan mật thiết với việc không ngừng hoàn thiện nguyên tắc pháp chế và bảo đảm sự điều chỉnh toàn diện của pháp luật, đồng thời phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và các cơ quan nhà nước.
Những vấn đề cốt lõi của hoạt động phòng ngừa tội phạm đã được tác giả luận giải một cách sâu sắc trong công trình này, như vấn đề bảo vệ pháp chế XHCN và bảo vệ quyền công dân; phòng ngừa tội phạm phải mang tính đồng bộ, toàn diện, tổng hợp các biện pháp chung của toàn xã hội và các biện pháp đặc biệt kết hợp và phối hợp chặt chẽ với nhau, trong đó có xác định rõ phương hướng chủ đạo; kết hợp nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống tội phạm với các nhiệm vụ trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hoá, giáo dục; quần chúng tham gia rộng rãi và tích cực vào việc phòng ngừa tội phạm…; 9 luan an Sách chuyên khảo: “Crime and Criminology in Japan” (dịch: Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản) của GS.TS Can Ueda. Tác giả cho rằng bản chất của hoạt động phòng ngừa tội phạm là làm suy yếu những yếu tố thúc đẩy hay thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm và tăng cường các yếu tố đối kháng với tội phạm [123, tr. Tác giả phân tích các hiện tượng xã hội hiện nay như quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, sự di cư, tập trung dân cư do…đã những yếu tố gây ra sự xáo trộn trong xã hội, mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội, hạn chế sự đoàn kết dân cư trong khu vực về phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm. Về chủ thể của hoạt động phòng ngừa tội phạm, tác giả cho rằng còn có cả các nhà khoa học, bên cạnh các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân; Sách chuyên khảo: “Preventing Crime: What Works, What Doesn’t, What’s Promising” (dịch: Phòng ngừa tội phạm: Các chương trình hiệu quả, chương trình không hiệu quả và chương trình tiềm năng) của Lawrence A.
Tác giả cho rằng một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác phòng ngừa tội phạm, đó là đánh giá hiệu quả đạt được trong từng mặt hoạt động phòng ngừa cụ thể, chứ không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân, điều kiện của THTP, xây dựng và tổ chức tiến hành các biện pháp phòng ngừa. Việc đánh giá cần chỉ ra biện pháp nào khả thi cần tiếp tục nhân rộng, biện pháp nào không hiệu quả, cần rút kinh nghiệm và biện pháp nào có tiềm năng phát huy tính hiệu quả trong tương lai cần duy trì, thí điểm; Sách chuyên khảo: “The Oxford Handbook of Crime Prevention” (dịch: Sổ tay phòng ngừa tội phạm của đại học Oxford) của Brandon C. Welsh và David P. Farrington, các tác giả đã chỉ ra rằng việc phòng ngừa sớm THTP cần được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung của phòng ngừa tội phạm của suy cho cùng là việc áp dụng các biện pháp tối ưu để từng bước loại trừ hoàn toàn những yếu tố tiêu cực là nguyên nhân, điều kiện của THTP [122]. Nhóm công trình nghiên cứu về lĩnh vực kinh doanh đa cấp và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nghiên cứu về lĩnh vực kinh doanh đa cấp có các cuốn sách tiêu biểu như “Làn sóng thứ ba - kỷ nguyên mới trong ngành kinh doanh theo mạng” của Richard Poe 10 luan an (2003); “Kinh doanh theo mạng từ A đến Z” của Don và Nancy Failla (2003); Armway Forever - The Amazing Story of a Global Business Phenomenon (dịch: Mãi mãi Armway - Câu chuyện về một hiện tượng kinh doanh toàn cầu)… của Kathyryn A.Jones (2013)…Các tác giả đã tiếp cận, làm rõ các vấn đề liên quan đến hoạt động KDTPTĐC dưới nhiều khía cạnh như lịch sử hình thành và phát triển của PTKDĐC trên thế giới; bản chất, khái niệm và các vấn đề có liên quan đến kinh doanh theo mạng…Chẳng hạn, sách “Làn sóng thứ ba – kỷ nguyên mới trong ngành kinh theo mạng” của Richard Poe đã phân chia quá trình phát triển của phương thức bán hàng đa cấp thành ba giai đoạn chính. Tác giả cũng đã phân tích các đặc điểm đặc trưng của phương thức kinh doanh này, xu thế phát triển của phương thức bán hàng đa cấp trong tương lai [137]. Sách "Kinh doanh theo mạng từ A đến Z" của các tác giả Don và Nancy Failla mang đặc điểm của cuốn cẩm nang hướng dẫn kỹ năng cho người tham gia bán hàng đa cấp, trả lời cho những câu hỏi mà những khách hàng tiềm năng thường đặt ra; những vấn đề thường được những phân phối viên mới tham gia công việc quan tâm nhất; những phân phối viên nghiêm túc muốn phát triển mạng lưới của mình.
Thông qua đó, cuốn sách đã phản ánh những vấn đề cốt lõi của phương thức kinh doanh này, làm rõ khái niệm và các vấn đề có liên quan đến kinh doanh theo mạng [126]. Sách: “Multilevel Marketing - Good or Bad” của Dan Farrell đã phân tích những ưu - nhược điểm của phương thức KDĐC, đặc biệt là mặt trái của phương thức kinh doanh này cũng những hệ lụy của nó đối với xã hội. Tác giả cũng khuyến nghị những cách thức để làm cho hình thức KDĐC trở nên có hiệu quả, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại [127]. Các nghiên cứu về hành vi lừa đảo CĐTS mà NCS có điều kiện tiếp cận, tham khảo chủ yếu phản ánh về loại tội này trên các lĩnh vực cụ thể.
Chẳng hạn, luận văn “Recognition and Reporting of Insurance Fraud in Comparison to Property Crimes” (dịch: Nhận dạng và trình báo tội lừa đảo bảo hiểm so với các tội về tài sản) của Aneta (2010) nghiên cứu về thủ đoạn phạm tội lừa đảo trong lĩnh vực bảo hiểm, nhưng cũng đề cập khá sâu về các đặc điểm nhân thân người phạm tội lừa đảo, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm lừa đảo [121]. Cuốn sách “Cyber crime and business: How not to caught by the online phisherman” (dịch: Tội phạm mạng và kinh doanh: làm thế nào để không bị mắc bẫy những kẻ câu thông tin trên mạng) của 11 luan an Nykodym., Kahle-Piasecki có nội dung phân tích tình hình tội lừa đảo CĐTS qua mạng internet ở Mỹ [135]. Thông qua việc phân tích những phương thức, thủ đoạn lừa đảo phổ biến đang diễn ra hiện nay trên không gian mạng, trong đó có đề cập đến thủ đoạn lừa đảo trên mạng kiểu Ponzi (lừa đảo huy động tài chính đa cấp), tác giả đã khuyến nghị những biện pháp bảo mật thông tin, phát hiện những nguy cơ trong quá trình sử dụng mạng Internet.