Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm và lý luận cơ bản 1. Khái niệm về phát triển Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau: “Phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, tự do về chính trị và các quyền tự do của con người”, theo Ngân hàng Thế giới (1992), (trích theo Luận văn thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên của tác giải Lương Thị Bông, năm 2019). Một tác giả khác: “Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên", theo MalcomGills (2010), (trích theo Luận văn thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên của tác giải Lương Thị Bông, năm 2019).
Theo tác giả: “Phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”, theo tác giả Raaman Weitz (1995), (trích theo Luận văn thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất lúa nếp cái hoa vàng của huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên của tác giải Lương Thị Bông, năm 2019). Tuy nhiên các ý kiến đều cho rằng: Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát m 17 triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn.
Khái niệm phát triển sản xuất Phát triển sản xuất có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ về mặt cơ cấu các mặt hàng. Phát triển sản xuất bao gồm: Phát triển sản xuất theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu. + Thứ nhất: Phát triển sản xuất theo chiều rộng: Tức là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất như diện tích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và khoa học công nghệ mới, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm xí nghiệp tạo ra những mặt hàng mới.
+ Thứ hai: Phát triển sản xuất theo chiều sâu: Nghĩa là xác định cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức sản xuất, phân công lại lao động, sử dụng hợp lý hiệu quả các nguồn lực. Phát triển sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của bất kỳ nền kinh tế hay một doanh nghiệp nào. Nhưng ở mỗi nước, mỗi doanh nghiệp, mỗi thời kỳ, sự kết hợp này có sự khác nhau. Theo quy luật chung của các nước cũng như các doanh nghiệp là thời kỳ đầu của sự phát triển thường tập trung để phát triển theo chiều rộng, sau đó tích lũy thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu.
Do sự khan hiếm nguồn lực làm hạn chế sự phát triển theo chiều rộng. Sự khan hiếm này ngày càng trở nên khốc liệt trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầu của xã hội và thị trường; do sự cần thiết xây dựng, đổi mới và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội của doanh nghiệp. Muốn vậy, phải phát triển kinh tế theo chiều sâu thì mới có thể tích lũy vốn. m 18 Như vậy, bất kỳ một doanh nghiệp, một quốc gia nào muốn phát triển thì đòi hỏi phải phát triển toàn diện cả về chiều sâu và chiều rộng nhưng chú trọng phát triển theo chiều sâu là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn.
Khái niệm phát triển bền vững Phát triển kinh tế là phương thức duy nhất và là điều kiện cơ bản để đạt tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của tất cả các dân tộc trên khắp thế giới. Nhưng trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình thì con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn giữa các nhu cầu của chính mình. Chẳng hạn con người vừa cần có củi để đun nấu và sưởi ấm lại rất cần có rừng để bảo vê đ̣ ất khỏi xói mòn, bảo vệ nguồn nước ngầm, phòng chống nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng. Từ những mâu thuẫn đó vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nhân loại phải đối mặt với nhiều thách thức rất to lớn về các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường mang tính toàn cầu, đó là: Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự giatăng dân số quá nhanh và hàng loạt những vấn đề xã hội khác nảy sinh: ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu trái đất làm suy giảm, thủng tầng ozôn dẫn tới hiện tượng Elnino, Lanina xảy ra thường xuyên và ngày càng dữ dội hơn.
Những thách thức nêu trên gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế và đe dọa sư tồn tại không chỉ của từ những quốc gia riêng lẻ mà của cả cộng đồng quốc tế. Thuật ngữ“phát triển bền vững”xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN)với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban môi trường m 19 và phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Năm 2002,Hiệp hội thượng đỉnh thế giới về phát triển được tổ chức ở Cộng hòa Nam Phi đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường (Nguyễn Văn Nam, năm 2013).
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa,. riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. *Điều kiện của phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển mang tính chất tổng thể, bao trùm tất cả các vấn đề trong một quốc gia như phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về chính trị, phát triển bền vững về môi trường, phát triển bền vững về y tế, phát triển bền vững về giáo dục đào tạo, phát triển bền vững về văn hóa xã hội, về an ninh quốc phòng về chỉ số phát triển con người.
Theo đó, phát triển kinh tế bền vững phải bao hàm cùng một lúc cả yêu cầu về mức độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế. Điều đó có nghĩa là phải thể hiện ở khả năng duy trì tăng trưởng GDP ở mức cao một cách lâu dài và có hiệu quả. m 20 * Nội dung chủ yếu về Phát triển bền vững i)Phát triển bền vững về kinh tế Phát triển kinh tế bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu về kinh tế của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng những nhu cầu về kinh tế của thế hệ tương lai, có nghĩa là phải tránh cho nền kinh tế bị suy thoái, vỡ nợ, mất khả năng thanh toán trong tương lai; Là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế được thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự thay đổi về chất theo hướng tiến bộ của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế: Là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. ii) Phát triển bền vững về xã hội Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Mục tiêu đầu tiên của phát triển bền vững là thỏa mãn các yêu cầu tối thiểu về ăn mặc, vệ sinh, sức khỏe, nhà ở, nước sạch, học hành…Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động.
Có việc làm thì người lao động mới có quyền, có thu nhập và các điều kiện tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Người lao động nếu không có việc làm, bị thất nghiệp sẽ không có thu nhập, dễ nảy sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn, gây hệ lụy cho xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống người dân: Thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân tăng.