Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tại Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được đưa vào sử dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX nhằm phục vụ thâm canh, tăng năng suất cây trồng và bảo vệ sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, việc lạm dụng và sử dụng không an toàn đã dẫn đến nhiều hệ lụy đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng. Theo báo cáo của Vụ Y tế Dự phòng (Bộ Y tế), năm 2000 cả nước ghi nhận 2.212 vụ nhiễm độc hóa chất BVTV với 5.394 nạn nhân và 193 trường hợp tử vong. Các khảo sát thực tế tại nhiều địa phương cho thấy tỷ lệ người dân thực hành đúng còn rất thấp; đơn cử tại Chí Linh (Hải Dương) có 15,1% người phun thuốc không dùng bảo hộ lao động và 48,7% tự ý pha trộn nhiều loại thuốc; tại Thái Bình có 63,2% người vứt bao bì bừa bãi tại nơi phun.

Thôn Đại An (xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) có 1.572 nhân khẩu với 447 hộ gia đình, trong đó 98% số hộ làm nông nghiệp trên diện tích canh tác khoảng 140 ha dọc bãi bồi sông Đào. Kết quả đánh giá nhanh trong đợt thực tập 10 tuần tại địa phương cho thấy 100% hộ nông nghiệp sử dụng thuốc BVTV từ 8 đến 10 lần/năm, nhưng chỉ có 6,1% người dân kể được nguyên tắc "4 đúng", 33,3% có kiến thức đúng và 22,2% có thực hành đúng. Trong vòng một năm trước nghiên cứu, thôn đã ghi nhận 6 trường hợp ngộ độc thuốc BVTV, trong đó có một ca nặng phải chuyển viện tuyến huyện.

Nhằm giải quyết vấn đề sức khỏe ưu tiên này, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế công cộng với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Thiết kế sách mỏng có nội dung "Hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả" cho người nông dân thôn Đại An từ ngày 07/04 đến 15/04/2007.
  2. Phát triển một bài truyền thông có nội dung "Hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả" dưới dạng băng ghi âm cho người dân thôn Đại An từ ngày 07/04 đến 15/04/2007.
  3. Thử nghiệm sách mỏng và bài phát thanh trên đối tượng cán bộ thôn và người nông dân trực tiếp sử dụng thuốc BVTV tại thôn Đại An từ ngày 16/04 đến 29/04/2007.
  4. Đề xuất các khuyến nghị hiệu chỉnh sách mỏng và bài phát thanh cho phù hợp với người dân địa phương.

Đối tượng nghiên cứu là người nông dân trực tiếp sử dụng thuốc BVTV chính trong hộ gia đình và cán bộ thôn tại thôn Đại An, xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong khoảng thời gian từ tháng 3/2007 đến tháng 5/2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên các tài liệu chuyên môn chuẩn về sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO, 1986), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Cục Y tế Dự phòng, Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Cục An toàn Lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Viện Bảo vệ Thực vật, cùng "Tài liệu tập huấn phát triển tài liệu truyền thông" của Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe (Bộ Y tế).

Khung lý thuyết tổng hợp các kiến thức cơ bản: định nghĩa thuốc BVTV; phân loại theo phổ tác dụng (thuốc trừ sâu, trừ bệnh hại, diệt cỏ, diệt nhện/ốc sên/chuột, điều hòa sinh trưởng); 4 con đường xâm nhập vào cơ thể (hô hấp, da, tiêu hóa, niêm mạc/mắt); tác hại cấp tính và mạn tính; nguyên tắc "4 đúng" (Đúng thuốc, Đúng lúc, Đúng liều lượng, Đúng cách) và quy tắc xử lý vỏ bao bì sau sử dụng (xúc rửa 3 lần, không vứt bừa bãi, không tái sử dụng). Thông điệp chủ đạo được xây dựng là: "Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hãy: Thực hiện 4 đúng (Đúng thuốc, Đúng lúc, Đúng liều, Đúng cách) và 1 nên (Bỏ bao bì đúng nơi quy định) để Tăng hiệu quả trừ sâu - Bảo đảm sức khoẻ - Bảo vệ môi trường".

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp đánh giá lượng hóa bằng bảng kiểm (checklist):

  • Chọn mẫu có chủ đích với tổng số 37 đối tượng tham gia thử nghiệm thực địa:
    • Phỏng vấn sâu 5 cán bộ thôn (Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã, Trưởng xóm 13, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân xóm 14, Chi hội trưởng Hội Phụ nữ xóm 15, Đội trưởng Đội sản xuất 4 - xóm 16).
    • Thảo luận nhóm tập trung qua 4 cuộc với 32 người nông dân trực tiếp sử dụng thuốc BVTV trong độ tuổi 30–50 tuổi, chia theo giới tính và địa bàn cư trú (Nhóm 1: phụ nữ xóm 13; Nhóm 2: phụ nữ xóm 15, 16; Nhóm 3: nam giới xóm 13, 14; Nhóm 4: nam giới xóm 15, 16).
  • Tiêu chí loại trừ: người mù chữ, người không có khả năng giao tiếp, người có khuyết tật về nghe hoặc nhìn.
  • Thu thập dữ liệu: Sách mỏng được gửi trước 1 ngày; bài phát thanh được phát thử nghiệm 2 lần trước khi thảo luận/phỏng vấn; toàn bộ quá trình được ghi âm (khi có sự đồng thuận), ghi chép và cho đối tượng chấm điểm qua bảng kiểm chuẩn hóa.
  • Xử lý số liệu: Gỡ băng ghi âm, phân tích chủ đề định tính kết hợp phân tích số liệu bảng kiểm trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Trình bày tổng quan thực trạng ô nhiễm, nguy cơ ngộ độc thuốc BVTV trên phạm vi toàn quốc và tại tỉnh Nam Định. Phân tích kết quả khảo sát sơ bộ tại thôn Đại An về tỷ lệ nhận thức, thực hành còn thấp của người dân, từ đó làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, thử nghiệm các sản phẩm truyền thông trước khi nhân rộng can thiệp.

Chương I: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuốc BVTV, độc tính, các đường xâm nhập vào cơ thể, nguyên tắc an toàn khi pha chế và phun rải. Phân tích các nghiên cứu KAP (kiến thức - thái độ - thực hành) quốc tế (Anh, Palestine, Lebanon) và trong nước (Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình). Đánh giá các mô hình can thiệp cộng đồng của Trường Đại học Y tế Công cộng, Cục Y tế Dự phòng, Viện Bảo vệ Thực vật (Dự án Bánh mỳ Thế giới), đồng thời chỉ ra khoảng trống: hầu hết tài liệu truyền thông hiện hành của các cơ quan chức năng chưa trải qua bước thử nghiệm thực địa trên nhóm đối tượng đích tại cấp thôn/xã.

Chương II: Phương pháp

Trình bày chi tiết lý do lựa chọn hai sản phẩm truyền thông (sách mỏng và bài phát thanh) dựa trên nhu cầu của người dân và đặc điểm kênh truyền thông địa phương. Mô tả ý tưởng thiết kế ban đầu: sách mỏng 8 trang (khổ 10,5 x 14,8 cm), bài phát thanh dung lượng khoảng 1.000 từ (thời lượng 3–5 phút kèm đoạn nhạc điệp âm). Nêu rõ thiết kế nghiên cứu, quy trình chọn mẫu 37 đối tượng, các nhóm biến số đánh giá (nội dung, hình thức, tính dễ nhớ, tính thực thi, độ tin cậy, giọng đọc), kỹ thuật thu thập dữ liệu bằng phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, bảng kiểm và cam kết đạo đức nghiên cứu.

Chương III: Kết quả

Mô tả đặc điểm mẫu thử nghiệm và tổng hợp chi tiết kết quả đánh giá thử nghiệm theo từng tiêu chí nội dung, hình thức của sách mỏng và bài phát thanh.

Về nhân khẩu học của mẫu thử nghiệm ($n=37$):

  • Giới tính: 20 nam (54,1%) và 17 nữ (45,9%).
  • Nhóm tuổi: 40–50 tuổi chiếm 54,1%; 30–40 tuổi chiếm 24,3%; trên 50 tuổi chiếm 16,2% (gồm 5 cán bộ thôn); dưới 30 tuổi chiếm 5,4%.
  • Trình độ học vấn: Hết cấp II chiếm 78,4% (29 người); hết cấp I chiếm 16,2% (6 người); hết cấp III chiếm 5,4% (2 người).

Tổng hợp các ý kiến đóng góp chỉnh sửa chi tiết cho từng trang của sách mỏng (bổ sung số thứ tự cho 4 đúng, đảo vị trí cụm từ "Bảo đảm sức khỏe" lên đầu, lược bỏ nhóm sinh vật gây hại không xuất hiện tại địa phương, bổ sung thông tin chỉ dẫn thời gian phun thuốc theo khung giờ sáng/chiều, bổ sung hình ảnh bảo hộ lao động găng tay và thay hộp thuốc bằng gói nylon).

Chương IV: Bàn luận

Phân tích tính phù hợp của các thông điệp truyền thông đối với thói quen canh tác của nông dân Đại An. So sánh kết quả tiếp nhận giữa hình thức văn bản in ấn và phát thanh qua loa truyền thanh xã/thôn. Đánh giá tính khả thi của các chỉ dẫn kỹ thuật trong điều kiện kinh tế nông hộ, bàn luận về phương pháp tiếp cận định tính kết hợp bảng kiểm trong thử nghiệm tiền trạm sản phẩm giáo dục sức khỏe.

Chương V: Kết luận

Tổng kết mức độ đạt được của các mục tiêu nghiên cứu: hai sản phẩm truyền thông về cơ bản được người dân và cán bộ tiếp nhận tốt, đáp ứng các tiêu chí dễ nhớ, dễ hiểu, tính thực thi cao; tổng hợp danh mục các điểm kỹ thuật cần chỉnh sửa trước khi xuất bản chính thức.

Chương VI: Khuyến nghị

Đề xuất kế hoạch hiệu chỉnh cụ thể cho sách mỏng và bài phát thanh; khuyến nghị phương án phối hợp phát thanh vào các buổi sáng/chiều trong thời gian cao điểm sâu bệnh cùng HTX Nam An; gợi ý định hướng nghiên cứu và phát triển thêm các sản phẩm truyền thông trực quan khác cho các chương trình can thiệp tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã xây dựng hoàn chỉnh và tiến hành thử nghiệm thực địa hai sản phẩm truyền thông sức khỏe trên nhóm đích tại nông thôn. Kết quả định lượng từ bảng kiểm đánh giá sản phẩm sách mỏng ghi nhận các tỷ lệ cụ thể:

Tiêu chí đánh giá sách mỏng Tỷ lệ đánh giá đạt / phù hợp (%)
Tiêu đề sách rõ ràng, dễ hiểu 97,0%
Cỡ chữ to, rõ, dễ đọc 97,1%
Cảm nhận chung: sách rất hấp dẫn, thiết thực 94,6%
Ngôn ngữ sử dụng dễ hiểu, gần gũi 94,0%
Cách thức trình bày thông điệp rõ ràng 91,9%
Loại chữ in sử dụng dễ đọc 90,9%
Khả năng thực hiện theo 10–14 chỉ dẫn trong sách 89,2%
Tính đầy đủ của nội dung thông tin 88,2%
Màu sắc trang bìa, nền và chữ rất phù hợp 88,2%
Hình ảnh minh họa phù hợp văn hóa, tập quán địa phương 88,2%
Trang bìa thiết kế rất hấp dẫn (mẫu bìa 1) 87,9%
Tính ngắn gọn, không thừa/trùng lặp 85,7%
Việc sử dụng các chữ in đậm nhấn mạnh phù hợp 85,3%
Kích thước sách mỏng phù hợp (10,5 x 14,8 cm) 84,8%
Số lượng hình ảnh minh họa đầy đủ, phù hợp 81,8%
Ghi nhớ được từ 4 đến 6 phần nội dung chính của sách 73,0%
Hình ảnh minh họa rất phù hợp với nội dung 70,6%
Nhớ được thông điệp "4 đúng và 1 nên" 59,5% (8,1% nhớ nguyên văn)

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận chỉ ra tầm quan trọng của giai đoạn thử nghiệm tiền trạm (pre-testing) sản phẩm truyền thông y tế công cộng trực tiếp tại cơ sở — bước thường bị bỏ qua trong các dự án trước đây. Thông qua phản hồi của người dân, nghiên cứu đã đưa ra các hiệu chỉnh thực tế: loại bỏ các nội dung không phù hợp với thực tế canh tác địa phương (như thuốc trừ ốc bươu, chuột trong tài liệu chuẩn), bổ sung hướng dẫn khung giờ phun thuốc an toàn, sửa đổi tranh vẽ minh họa phản ánh đúng dạng bao bì thuốc dạng gói nylon và trang bị bảo hộ lao động phù hợp với điều kiện kinh tế nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong phạm vi một đợt can thiệp tốt nghiệp cử nhân với nguồn lực và thời gian hạn chế (thời gian thử nghiệm thực địa từ 16/04 đến 22/04/2007). Nghiên cứu chỉ tiến hành trên quy mô một thôn (Đại An) với dung lượng mẫu định tính là 37 người, tập trung vào hai hình thức truyền thông là sách mỏng và bài phát thanh.

Tác giả đề xuất hướng phát triển tiếp theo bao gồm: hoàn thiện bản in và băng phát thanh chính thức dựa trên danh mục hiệu chỉnh; phát sóng bài truyền thanh định kỳ trên hệ thống loa truyền thanh thôn kết hợp các đợt thông báo sâu bệnh của Hợp tác xã Nam An; lồng ghép phát sách mỏng trong các buổi tập huấn tại đội sản xuất; mở rộng thử nghiệm sang các loại hình truyền thông trực quan khác (panô, áp phích, video) và đánh giá hiệu quả can thiệp KAP sau khi triển khai trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên các ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Truyền thông giáo dục sức khỏe và An toàn vệ sinh lao động trong việc thiết kế công cụ nghiên cứu định tính và xây dựng tài liệu truyền thông can thiệp.

Các cán bộ tại trạm y tế xã, trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện, cán bộ khuyến nông và bảo vệ thực vật có thể tham khảo trực tiếp cấu trúc bộ công cụ thử nghiệm (bộ câu hỏi phỏng vấn sâu cán bộ, hướng dẫn thảo luận nhóm, bảng kiểm đánh giá sản phẩm in ấn và phát thanh) cùng các bài học thực tế về việc điều chỉnh tài liệu chuyên môn chuẩn hóa cho sát với ngôn ngữ và tập quán sinh hoạt của người nông dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Thông điệp truyền thông chủ đạo được xây dựng trong khóa luận gồm những nội dung nào?
Thông điệp chủ đạo là: "Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hãy: Thực hiện 4 đúng (Đúng thuốc, Đúng lúc, Đúng liều, Đúng cách) và 1 nên (Bỏ bao bì đúng nơi quy định) để Tăng hiệu quả trừ sâu - Bảo đảm sức khoẻ - Bảo vệ môi trường".

2. Mẫu thử nghiệm thực địa gồm bao nhiêu đối tượng và có đặc điểm nhân khẩu học ra sao?
Mẫu thử nghiệm gồm 37 đối tượng (5 cán bộ thôn và 32 nông dân trực tiếp sử dụng thuốc BVTV; 20 nam và 17 nữ). Nhóm tuổi 40–50 chiếm 54,1%; 30–40 tuổi chiếm 24,3%; trên 50 tuổi chiếm 16,2% và dưới 30 tuổi chiếm 5,4%. Về học vấn, 78,4% đạt trình độ cấp II, 16,2% cấp I và 5,4% cấp III.

3. Kết quả đánh giá bằng bảng kiểm đối với sách mỏng ghi nhận những chỉ số nổi bật nào?
Có 97,0% đối tượng đánh giá tiêu đề sách rõ ràng, dễ hiểu; 97,1% đánh giá cỡ chữ phù hợp; 94,6% nhận xét sách rất hấp dẫn; 94,0% đánh giá ngôn ngữ dễ hiểu; 89,2% khẳng định có thể thực hiện từ 10–14 chỉ dẫn an toàn; và 73,0% ghi nhớ được từ 4 đến 6 phần nội dung chính của sách.

4. Người dân và cán bộ thôn đã đề xuất những thay đổi cụ thể nào cho nội dung sách mỏng?
Các đề xuất chỉnh sửa chính gồm: đánh số thứ tự cho "4 đúng"; đưa cụm từ "Bảo đảm sức khỏe" lên vị trí cao nhất trên trang bìa; loại bỏ nhóm "thuốc trừ nhện, ốc sên, chuột" do địa phương không dùng; bổ sung nguy cơ gây ô nhiễm không khí; ghi chú vị trí vạch màu độc tính trên nhãn thuốc; bổ sung hướng dẫn khung giờ phun thuốc an toàn vào buổi sáng/chiều; và chỉnh sửa tranh vẽ người phun thuốc phải có găng tay, sử dụng bao bì gói nylon sát thực tế.

5. Hai sản phẩm truyền thông được thiết kế với dung lượng và kênh phân phối dự kiến như thế nào?
Sách mỏng được thiết kế 8 trang, kích thước nhỏ gọn (10,5 x 14,8 cm), dự kiến phát trực tiếp cho người dân tại các buổi họp đội sản xuất. Bài phát thanh có độ dài khoảng 1.000 từ, thời lượng 3–5 phút kèm đoạn nhạc điệp âm mở đầu, dự kiến phát trên hệ thống loa truyền thanh vào hai buổi sáng/chiều tối trong các đợt phát sinh sâu bệnh kết hợp với bản tin của Hợp tác xã Nam An.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Cẩm Hà đã phát triển và thử nghiệm thành công hai sản phẩm truyền thông giáo dục sức khỏe gồm sách mỏng và bài phát thanh về sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả tại thôn Đại An, xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Kết quả đánh giá định tính và bảng kiểm khẳng định sản phẩm có tính dễ hiểu, thẩm mỹ cao và sát với nhu cầu của người dân nông thôn. Toàn bộ các phát hiện thực địa đã được chuyển hóa thành các khuyến nghị hiệu chỉnh chi tiết, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện và nhân rộng can thiệp truyền thông y tế công cộng tại cơ sở.