Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế Công cộng của tác giả Trần Thị Đức Hạnh (Trường Đại học Y tế Công cộng, 2007) tập trung giải quyết vấn đề kiểm soát bệnh mắt hột ở lứa tuổi học sinh tiểu học thông qua truyền thông thay đổi hành vi. Bệnh mắt hột do vi khuẩn Chlamydia trachomatis gây ra, là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến mù lòa trên toàn cầu. Bệnh lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp từ mắt sang mắt, qua bàn tay nhiễm bẩn hoặc qua các vật dụng sinh hoạt chung như khăn mặt và gối. Số liệu dịch tễ học quốc tế vào thời điểm nghiên cứu ghi nhận khoảng 84 triệu người trên thế giới, phần lớn là trẻ em tại 55 quốc gia, đang nhiễm mắt hột hoạt tính. Tại Việt Nam, kết quả điều tra dịch tễ học năm 2001 chỉ ra tỷ lệ hiện mắc mắt hột hoạt tính tại 11 huyện thuộc các tỉnh miền Bắc và miền Trung là 13,4%, trong đó nhóm trẻ em 6–10 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (18,16%).

Tại địa bàn thực địa xã Mỹ Tiến (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), tỷ lệ mắt hột hoạt tính ở học sinh tiểu học trong các năm 2004 và 2005 được duy trì ở mức tương đối thấp, lần lượt là 3,0% và 3,2%. Tuy nhiên, đến năm 2006, tỷ lệ này đã tăng đột biến lên 7,0% (cao gấp hơn 2 lần các năm trước), vượt xa tỷ lệ mắc ở khối mầm non (3,3%), khối trung học cơ sở (1,95%) và tỷ lệ chung toàn huyện (2,8%). Tình trạng này đe dọa trực tiếp tới chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương là giảm tỷ lệ mắt hột ở học sinh xuống dưới 2,5% vào năm 2006.

Các nghiên cứu khoa học được tác giả dẫn chứng chỉ ra rằng cải thiện vệ sinh cá nhân là biện pháp then chốt để hạ thấp nguy cơ mắc bệnh. Nghiên cứu dịch tễ học của Trường Đại học Y tế Công cộng (2005) khẳng định trẻ 6–10 tuổi có mặt bẩn thì nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5,30 lần trẻ có mặt sạch (OR = 5,30; KTC 95%: 1,79 – 15,73), và trẻ dùng gối riêng có nguy cơ mắc bệnh giảm đáng kể (OR = 0,51; KTC 95%: 0,29 – 0,90). Dù vậy, khảo sát trước can thiệp trên 115 học sinh khối 4–5 tại trường Tiểu học Mỹ Tiến cho thấy thực hành vệ sinh còn rất nhiều tồn tại: 76% học sinh rửa mặt dưới 3 lần/ngày và 71% dùng chung khăn mặt với người thân trong gia đình. Nhằm duy trì và mở rộng kết quả của đợt thực địa trước đó, nghiên cứu này được triển khai với các mục tiêu cụ thể:

  1. Thiết kế được một tranh dán tường và một đề can truyền thông tăng cường hành vi rửa mặt đúng cho học sinh khối 4–5 trường Tiểu học Mỹ Tiến, xã Mỹ Tiến, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định từ tháng 3/2007 đến tháng 5/2007.
  2. Thử nghiệm tính rõ ràng, dễ hiểu về nội dung truyền thông, tính khuyến khích thực hiện hành động và tính hấp dẫn về hình thức của tranh dán tường và đề can truyền thông tăng cường hành vi rửa mặt đúng cho học sinh khối 4–5 tại địa bàn trên.
  3. Khuyến nghị hiệu chỉnh tranh dán tường và đề can truyền thông tăng cường hành vi rửa mặt đúng sau khi thử nghiệm.
  • Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp 4, khối lớp 5 và giáo viên chủ nhiệm các lớp 4, 5 trường Tiểu học Mỹ Tiến.
  • Phạm vi không gian: Trường Tiểu học Mỹ Tiến, xã Mỹ Tiến, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 3/2007 đến tháng 5/2007 (trong đó thử nghiệm đợt 1 diễn ra từ 17/4 đến 20/4/2007; thử nghiệm đợt 2 diễn ra từ 26/4 đến 27/4/2007).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung chiến lược và cơ sở can thiệp

Khóa luận xây dựng can thiệp dựa trên Chiến lược SAFE do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các đối tác khởi xướng trong Chương trình thanh toán mắt hột toàn cầu 2020 (GET 2020). SAFE bao gồm 4 hợp phần:

  • S (Surgery): Phẫu thuật điều trị quặm.
  • A (Antibiotics): Điều trị kháng sinh đối với các trường hợp nhiễm bệnh hoạt tính.
  • F (Facial cleanliness): Giữ sạch mặt nhằm giảm lây truyền mầm bệnh.
  • E (Environmental improvement): Cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường.

WHO quy định một quốc gia được công nhận thanh toán bệnh mắt hột khi tỷ lệ mắt hột hoạt tính ở trẻ dưới 10 tuổi (kết hợp tiêu chuẩn TF - viêm mắt hột có hột và TI - viêm mắt hột nặng) giảm xuống dưới 5%. Nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào hợp phần F (Facial cleanliness) thông qua giáo dục truyền thông học đường, tham khảo các bài học kinh nghiệm từ chương trình truyền thông tại Nepal, chương trình "Quyền được nhìn" (Right to Sight) tại Mali, mô hình tài liệu giảng dạy và tranh song ngữ Amharic/Oromigna tại Ethiopia, cũng như các chiến dịch phối hợp giữa Bộ Y tế Việt Nam với Tổ chức Mắt hột Quốc tế (ITI) và Tổ chức Phát triển Quốc tế (IDE).

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong quá trình phát triển và thử nghiệm tiền trạm (pre-testing) sản phẩm truyền thông:

  • Thu thập dữ liệu định tính:
    • Thử nghiệm đợt 1: Tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm, gồm 2 nhóm học sinh (mỗi nhóm 6 em, đại diện khối 4 và khối 5, cân đối giới tính và học lực) và 1 nhóm giáo viên gồm 5 giáo viên chủ nhiệm lớp 4–5.
    • Thử nghiệm đợt 2: Tiến hành 1 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm với 6 học sinh khối 4–5 để giải thích sâu cho các phát hiện định lượng.
    • Quy trình thực hiện bởi 2 điều tra viên (ĐTV 1 dẫn dắt thảo luận theo hướng dẫn có sẵn; ĐTV 2 ghi chép, ghi âm và gỡ băng phân tích).
  • Thu thập dữ liệu định lượng:
    • Áp dụng trong đợt thử nghiệm thứ hai thông qua hình thức phát vấn bảng hỏi tự điền có cấu trúc (gồm 14 biến số chính đo lường nội dung và hình thức).
    • Chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn thông qua bốc thăm danh sách học sinh khối 4 và 5, chọn ra cỡ mẫu $n = 34$ học sinh. Cơ cấu mẫu định lượng gồm 15 học sinh nam (44%) và 19 học sinh nữ (56%); trong đó 18 học sinh lớp 4 (53%) và 16 học sinh lớp 5 (47%).
  • Xử lý số liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch, nhập liệu và phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) bằng phần mềm SPSS phiên bản 10.0.
  • Khía cạnh đạo đức: Phiếu phát vấn hoàn toàn khuyết danh, các câu hỏi không xâm phạm quyền riêng tư. Tác giả tiến hành giải thích rõ mục đích và nhận được sự đồng thuận tham gia của toàn bộ giáo viên và học sinh trước khi thu thập dữ liệu.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Đặt vấn đề và Tổng quan tài liệu

Phần này hệ thống hóa toàn diện cơ sở dịch tễ học và các mô hình truyền thông phòng chống mắt hột trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh trường học là kênh truyền thông có chi phí thấp, tính bền vững cao và khả năng tiếp cận tập trung nhóm đích có nguy cơ cao nhất (trẻ 6–10 tuổi). Tác giả cũng phân tích sự cần thiết của việc xây dựng tài liệu truyền thông dựa trên bằng chứng và có sự tham gia của đối tượng thụ hưởng nhằm bảo đảm tính tương thích về văn hóa và tâm lý lứa tuổi.

Ý tưởng thiết kế và phương pháp thử nghiệm sản phẩm

Dựa trên điều tra sơ bộ trước đó về thực trạng vệ sinh và thị hiếu học sinh ($n=115$ và khảo sát bổ sung về nguồn tin), tác giả xác định 3 trụ cột thiết kế:

  • Nội dung: Nhắm trực tiếp vào hai hành vi nguy cơ chính là rửa mặt dưới 3 lần/ngày và dùng chung khăn mặt. Khẩu hiệu can thiệp được lựa chọn là: "Hãy rửa mặt sạch bằng khăn riêng để phòng bệnh mắt hột".
  • Kênh và loại sản phẩm: Khảo sát nguồn tin ghi nhận học sinh thường xuyên tiếp cận tivi/đài (69%), loa phát thanh (74%), tranh treo tường (48%) và tờ rơi (34%). Khi hỏi về đồ dùng học tập gắn bó nhất, 67% học sinh chọn cặp sách. Do đó, nhóm nghiên cứu lựa chọn cặp sản phẩm bổ trợ: tranh dán tường khổ lớn (truyền thông đại chúng tại trường học) và đề can dán cặp sách (truyền thông cá nhân hóa, tiếp cận tại gia đình).
  • Hình ảnh nhân vật: Khảo sát sở thích hoạt hình cho thấy 100% học sinh thích phim hoạt hình; nhân vật được yêu thích nhiều nhất là chuột Mickey (67%) và vịt Donald (64%). Tác giả đã đưa hai nhân vật này vào tranh minh họa cho hành vi rửa mặt sạch bằng khăn riêng.

Kết quả thử nghiệm sản phẩm truyền thông

Phần này trình bày chi tiết các phát hiện định tính và định lượng qua hai đợt thử nghiệm về tính rõ ràng, tính thuyết phục và hình thức của tranh và đề can:

  • Học sinh đánh giá tranh dán tường thể hiện hành vi cụ thể hơn đề can nhờ có thêm các chi tiết trực quan như bể nước, chậu rửa mặt và giá phơi khăn.
  • Học sinh và giáo viên đóng góp nhiều ý kiến chi tiết để chỉnh sửa tranh vẽ: bỏ bớt nước lênh láng dưới sân để giáo dục tiết kiệm nước, hạ thấp thành chậu rửa, làm mờ màu bể nước cho chân thực với nông thôn, thêm chi tiết đời sống như con mèo trên mái nhà, con gà trên sân, bóng râm dưới gốc cây.
  • Giáo viên phát hiện nguy cơ sai lệch nhận thức nếu vẽ cả bờ ao lẫn bể nước cạnh nhau, vì học sinh có thể hiểu lầm là dùng nước ao rửa mặt cũng được.

Bàn luận và Khuyến nghị

Tác giả thảo luận về tính ưu việt của việc kết hợp giữa tranh dán tường và đề can dán cặp nhằm khắc phục điểm yếu của từng loại tài liệu riêng lẻ. Đồng thời, tác giả chỉ ra các điểm cần hoàn thiện về đồ họa, đề cập đến vấn đề bản quyền hình ảnh quốc tế và đề xuất cơ chế phối hợp ba bên: nhà trường, gia đình và y tế xã để bảo đảm tính duy trì của hành vi.

Kết quả và đóng góp thực tiễn

Các kết quả định lượng nổi bật

Dữ liệu thử nghiệm trên 34 học sinh khối 4–5 được tổng hợp chi tiết qua các bảng chỉ số sau:

Tiêu chí đánh giá nội dung Mức độ phản hồi Số lượng ($n$) Tỷ lệ (%)
Miêu tả rõ hành vi rửa mặt bằng khăn riêng 3 lần/ngày
- Tranh dán tường Không đồng ý 3 8,8
Đồng ý 2 5,9
Rất đồng ý 29 85,3
- Đề can dán cặp Không đồng ý / Đồng ý 10 29,4
Rất đồng ý 24 70,6
Câu khẩu hiệu dễ hiểu, rõ ràng Không đồng ý 0 0,0
Đồng ý 8 23,5
Rất đồng ý 26 76,5
Khung cảnh tranh gần gũi với làng quê địa phương Không phù hợp 1 2,9
Phù hợp / Rất phù hợp 33 97,1
Tiêu chí khuyến khích thực hiện hành động Sản phẩm Không đồng ý (%) Đồng ý (%) Rất đồng ý (%)
Sẽ kể với bố mẹ, bạn bè về nội dung sản phẩm Tranh dán tường 5,9 41,2 52,9
Đề can dán cặp 5,9 17,6 76,5
Sẵn sàng thực hiện theo lời khuyên của sản phẩm Tranh dán tường 0,0 23,5 76,5
Đề can dán cặp 0,0 11,8 88,2
Tiêu chí hình thức và mức độ yêu thích Không thích (%) Thích (%) Rất thích (%)
Hình ảnh chuột Mickey và vịt Donald trong tranh 2,9 14,7 82,4
Màu sắc các hình ảnh trong tranh 2,9 29,5 67,6
Đánh giá chung về tranh dán tường 0,0 11,8 88,2
Đánh giá chung về đề can dán cặp 2,9 17,6 79,4
  • Quy cách kỹ thuật và vị trí dán:
    • Tranh dán tường: Kích thước $50 \times 50\text{ cm}$ phù hợp với tầm nhìn học sinh lớp 4–5 (học sinh cao khoảng $1\text{m}40$, khoảng nhìn tốt nhất từ $1\text{m}10$ đến $1\text{m}50$). Tranh treo ở độ cao $95\text{ cm} - 1\text{m}50$ so với mặt đất giúp các em không bị với và tránh thói quen quệt tay lên tường dưới $90\text{ cm}$. Vị trí dán tối ưu được 97% học sinh lựa chọn là chiếu nghỉ cầu thang tầng 1; giáo viên khuyến nghị thêm khu vực nhà để xe để nhắc nhở học sinh lúc đến trường và lúc ra về.
    • Đề can: 100% học sinh đồng ý dạng hình chữ nhật là phù hợp để dán trên nắp cặp sách, tuy nhiên có 8,8% học sinh mong muốn kích thước to hơn một chút.

Đề xuất và giải pháp hiệu chỉnh của tác giả

  1. Điều chỉnh đồ họa và hình tượng: Cần "Việt hóa" trang phục của Mickey và Donald cho giống trẻ em nông thôn; phân hóa động tác giữa hai nhân vật (Mickey ngồi giặt khăn trong chậu, Donald đứng lau mặt) để sinh động hơn, tránh tạo cảm giác hai nhân vật đang giơ tranh khoe nhau.
  2. Loại bỏ yếu tố gây nhiễu nhận thức: Thay thế hình ảnh bờ ao trong bức tranh bằng vườn rau gia đình, chỉ giữ lại duy nhất nguồn nước từ bể chứa để học sinh hiểu rõ chỉ được dùng nước bể sạch để rửa mặt, tránh việc các em nghĩ có thể dùng nước ao.
  3. Mô hình nhân rộng và duy trì: Bàn giao trước mắt cho trường Tiểu học Mỹ Tiến 3 tranh dán tường (1 ở cầu thang, 2 ở nhà để xe) và 115 đề can (phát tận tay từng học sinh khối 4–5); chuyển giao 2 tranh và 25 đề can cho Trạm Y tế xã làm mẫu. Đề xuất nhà trường và hội phụ huynh hỗ trợ kinh phí định kỳ phát đề can 2 lần/năm và thay mới tranh dán tường khi bị cũ, rách.

Đóng góp so với các can thiệp trước

Nghiên cứu áp dụng quy trình phát triển tài liệu truyền thông có sự tham gia trực tiếp của đối tượng đích (participatory approach). Thay vì chỉ khảo sát ý kiến một chiều, tác giả cho học sinh tự vẽ phác thảo ý tưởng lên bảng và góp ý trực tiếp vào từng chi tiết đồ họa. Bên cạnh đó, giải pháp kết hợp giữa tranh dán tường tại lớp học và đề can cá nhân hóa dán trên cặp sách đã giải quyết được khoảng trống tiếp cận thông tin giữa môi trường nhà trường và gia đình.

Hạn chế của nghiên cứu

  • Cỡ mẫu định lượng nhỏ: Do hạn chế về thời gian thực địa và kinh phí, khảo sát định lượng thử nghiệm đợt 2 chỉ thực hiện trên mẫu $n = 34$ học sinh, dù đã khắc phục tính đại diện bằng kỹ thuật bốc thăm ngẫu nhiên đơn.
  • Thiếu sự tham gia trực tiếp của phụ huynh: Quá trình thử nghiệm chưa thể lấy ý kiến trực tiếp từ các bậc cha mẹ học sinh tại hộ gia đình, tác giả phải khắc phục gián tiếp bằng cách phỏng vấn các giáo viên có con trong độ tuổi học tiểu học.
  • Rào cản pháp lý về bản quyền: Việc sử dụng các nhân vật hoạt hình quốc tế (chuột Mickey và vịt Donald thuộc bản quyền hãng Walt Disney) là giải pháp tình huống mang lại tính hấp dẫn cao cho học sinh, nhưng sẽ gặp rào cản pháp lý nếu nhân rộng quy mô can thiệp ra cấp huyện, tỉnh hoặc quốc gia.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho sinh viên, học viên chuyên ngành Y tế Công cộng, Y học Dự phòng và Truyền thông Giáo dục Sức khỏe (BCC/IEC). Điểm đáng tham khảo nhất của công trình nằm ở phương pháp luận và quy trình kỹ thuật thử nghiệm tiền trạm (pre-testing) sản phẩm truyền thông sức khỏe. Các bộ công cụ đính kèm trong phụ lục—bao gồm phiếu phát vấn tìm hiểu thị hiếu truyền thông, hướng dẫn thảo luận nhóm trọng tâm cho học sinh và giáo viên, cùng bảng hỏi tự điền cấu trúc—có thể được áp dụng trực tiếp cho các nghiên cứu can thiệp hành vi vệ sinh học đường khác.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nghiên cứu lại chọn đối tượng can thiệp trọng tâm là học sinh khối 4–5 trường Tiểu học Mỹ Tiến?

Số liệu dịch tễ học năm 2006 tại xã Mỹ Tiến cho thấy tỷ lệ mắc mắt hột ở khối tiểu học tăng vọt lên 7% (gấp hơn 2 lần năm 2005 và cao hơn khối mầm non 3,3%, THCS 1,95%). Mặt khác, khảo sát ban đầu cho thấy 76% học sinh khối 4–5 rửa mặt dưới 3 lần/ngày và 71% dùng chung khăn mặt. Đây cũng là lứa tuổi có khả năng đọc hiểu tốt, có thể tự điền bảng hỏi và đã hình thành ý thức vệ sinh cá nhân độc lập.

2. Hai sản phẩm truyền thông được thiết kế trong nghiên cứu là gì và vì sao lại chọn hình thức này?

Hai sản phẩm là tranh dán tường và đề can dán cặp sách. Tranh dán tường được chọn vì 48% học sinh thường xuyên tiếp cận nguồn tin này tại trường và 28% học sinh bình chọn đây là hình thức ưa thích nhất. Đề can dán cặp sách được chọn vì 67% học sinh xem cặp sách là đồ dùng thân thiết nhất; đề can giúp thông điệp truyền thông theo chân học sinh về tận nhà để phụ huynh cùng nhìn thấy và nhắc nhở các em.

3. Chi tiết nào trong bản thảo tranh dán tường ban đầu bị học sinh và giáo viên đề nghị chỉnh sửa nhiều nhất?

Đó là chi tiết chiếc ao nước cạnh bể chứa. Giáo viên và học sinh nhận định việc vẽ ao nước cạnh bể sẽ khiến trẻ hiểu lầm có thể dùng cả nước ao để rửa mặt, do đó đề nghị thay bờ ao bằng vườn rau. Ngoài ra, học sinh cũng đề nghị xóa bỏ vũng nước lênh láng dưới sân để tránh lãng phí nước và hạ thấp thành chậu rửa cho đúng thực tế.

4. Mức độ chấp nhận và cam kết thực hiện hành vi của học sinh đối với hai sản phẩm đạt bao nhiêu phần trăm?

100% học sinh tham gia thử nghiệm đồng ý thực hiện theo hành vi mà tranh dán tường và đề can khuyến nghị (trong đó tỷ lệ "rất đồng ý" với đề can đạt 88,2% và với tranh dán tường đạt 76,5%). Đồng thời, có 94,1% học sinh đồng ý sẽ kể lại nội dung thông điệp cho bố mẹ và bạn bè.

5. Khóa luận khuyến nghị dán tranh truyền thông ở những vị trí cụ thể nào trong khuôn viên trường tiểu học?

Nghiên cứu khuyến nghị dán tranh tại chiếu nghỉ cầu thang tầng 1 (được 97% học sinh chọn vì đi lên hay xuống lớp đều nhìn thấy) và khu vực nhà để xe của trường (giúp nhắc nhở học sinh giữ sạch mặt khi vừa đến trường và trước khi ra về). Độ cao treo tranh thích hợp là từ 95 cm đến 1m50 so với mặt đất.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Đức Hạnh đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu đề ra về việc thiết kế, thử nghiệm tiền trạm và đề xuất hiệu chỉnh bộ sản phẩm truyền thông phòng chống mắt hột học đường. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp định tính và định lượng trên cơ sở chiến lược SAFE của WHO, nghiên cứu đã minh chứng tính khả thi và hiệu quả tiếp cận cao của mô hình phối hợp giữa tranh dán tường và đề can học sinh. Các phát hiện thực nghiệm và khuyến nghị điều chỉnh chi tiết trong khóa luận cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng phục vụ công tác duy trì và nhân rộng các can thiệp y tế học đường tại vùng nông thôn.