Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục (mã số 62 14 05 01) của nghiên cứu sinh Thạch Ngọc Yến có tiêu đề chính thức: "Lí luận, thực tiễn và các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên". Luận án được thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2009, dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm PGS.TS. Đặng Quốc Bảo và PGS.TS. Bùi Văn Quân.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và đô thị hóa, sự phân hóa giàu nghèo đã dẫn đến tình trạng một bộ phận trẻ em phải rời gia đình, sống lang thang kiếm sống trên đường phố. Môi trường sinh sống và kiếm sống của trẻ em lang thang diễn ra đa dạng, phức tạp và thiếu sự quản lý từ phía gia đình cũng như nhà trường, khiến các em luôn đối mặt với những nguy cơ xâm hại nhân phẩm, thân thể và sinh mạng. Đặc biệt, tình trạng thiếu hụt thông tin, hiểu biết về sức khỏe sinh sản và dịch vụ chăm sóc sức khỏe đã làm tăng nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường tình dục, lây nhiễm HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai không an toàn. Mặc dù xã hội đã có các biện pháp can thiệp hành chính, việc tổ chức hoạt động giáo dục định hướng nhận thức và hành vi, đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đối tượng này dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục, vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên nhằm góp phần phòng chống tệ nạn xã hội ở nhóm trẻ em đặc biệt này.
Để hoàn thành mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu lý luận việc tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên.
- Phân tích thực tiễn tình hình trẻ em lang thang và hoạt động giáo dục cho nhóm trẻ em này thông qua khảo sát thực tế tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên.
- Trưng cầu ý kiến về tính hiện thực và tính khả thi của các nhóm giải pháp, đồng thời tiến hành thử nghiệm một trong các nhóm giải pháp đã đề xuất về tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Về khách thể và đối tượng:
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tổ chức giáo dục trẻ em lang thang.
- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Giả thuyết nghiên cứu của luận án được xác định rõ: Việc tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang đường phố sẽ đạt được hiệu quả góp phần phòng chống tệ nạn xã hội nếu người làm công tác quản lý chú ý và biết sử dụng đồng bộ các giải pháp tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho nhóm đối tượng này trên cơ sở vận hành tối ưu cấu trúc của các tổ chức xã hội hiện có, hướng các tổ chức này vào việc thực hiện các hoạt động giáo dục, đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và hoàn cảnh sống của trẻ em lang thang.
Về phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về độ tuổi: Nhóm trẻ em lang thang đường phố tham gia khảo sát và can thiệp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên được giới hạn trong độ tuổi từ 10 tuổi đến 16 tuổi.
- Giới hạn về không gian: Khảo sát thực tiễn tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh ở các khu vực đặc trưng gồm: Khu vực nội thành trung tâm (Quận 1, Quận 3, Quận 5 - nơi tập trung nhiều hoạt động thương mại, du lịch và chợ đầu mối); Khu vực đông dân nhập cư và tiểu thủ công nghiệp (Quận Tân Bình, Quận Bình Thạnh, Quận 12); Khu vực ngoại thành có nhiều nhà máy sản xuất vừa và nhỏ (Huyện Hóc Môn).
- Giới hạn về thời gian và dữ liệu: Đánh giá thực trạng dựa trên các mốc số liệu thống kê quản lý trẻ em lang thang từ giai đoạn triển khai Quyết định 134/1999/QĐ-TTg, Quyết định 19/2004/QĐ-TTg đến tháng 10/2006, và số liệu báo cáo khảo sát thực địa cập nhật đến tháng 3/2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả Thạch Ngọc Yến đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:
Về tình hình trẻ em lang thang và các tệ nạn xã hội liên quan trên thế giới:
Luận án dẫn số liệu thống kê từ Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Toàn cầu ước tính có khoảng 100 triệu trẻ em lang thang, trong đó 70% tập trung tại châu Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á. Tại châu Á có từ 25 triệu đến 30 triệu trẻ dưới 18 tuổi bị cuốn vào tệ nạn ma túy và mại dâm do thiếu hiểu biết. Nghiên cứu của Võ Trung Tâm điểm lại tình hình tại thủ đô Manila (Philippines) với 80.000 trẻ em đường phố năm 1999 và hoạt động của trung tâm lưu xá Shelter Tahanan trợ giúp 300 trẻ từ 7 đến 17 tuổi. Luận án cũng dẫn tư liệu khảo sát của UNICEF tại 25 quốc gia Hạ Sahara (châu Phi), số liệu về trẻ em đường phố tại Ulaanbaatar (Mông Cổ) với hơn 380 em sống trong hệ thống cống ngầm, tại Dhaka (Bangladesh) với 215.000 trẻ em gái đường phố, và số liệu năm 2000 của Bộ Xã hội và Bộ Y tế Nhật Bản về trẻ em bỏ nhà lang thang do xung đột gia đình.
Về các nghiên cứu trẻ em lang thang và giáo dục sức khỏe sinh sản tại Việt Nam:
Tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:
- Nghiên cứu của Timothy W. Bons (1992) với công trình "Trẻ bụi đời tại thành phố Hồ Chí Minh" và khảo sát về trẻ em bụi đời tại Hà Nội, chỉ ra xu hướng chính quyền các đô thị thường sử dụng biện pháp hành chính tập trung trẻ vào các trường trại, tách biệt trẻ khỏi môi trường cộng đồng.
- Khảo sát thực trạng của Nguyễn Văn Buồm và Jonathan Caseley (1996) trong công trình "Khảo sát thực trạng trẻ em đường phố tại Hà Nội", đề xuất 4 nhóm phân loại trẻ em lang thang dựa trên mức độ gắn kết với đường phố và gia đình.
- Đề tài của Nguyễn Văn Thắng (2000) về "Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông", tập trung vào đối tượng học sinh trong môi trường trường học chính quy.
- Đề tài của Phạm Đức Quang (2003) với tiêu đề "Nghiên cứu các giải pháp giáo dục trẻ em lang thang Việt Nam", phân tích các biện pháp giáo dục nói chung cho trẻ đường phố.
- Công trình của Đỗ Thị Ngọc Phương (2004) về "Cơ cấu nhóm của trẻ em lang thang và các biện pháp giáo dục thông qua nhóm", làm rõ các đặc trưng tâm lý và cấu trúc liên kết nhóm không chính thức của trẻ đường phố.
- Nghiên cứu của Võ Trung Tâm (2005) thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh về "Trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố tại thành phố", phản ánh thực trạng cơ cấu công việc và sinh hoạt của nhóm trẻ này.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận trẻ em lang thang dưới góc độ cứu trợ xã hội, giải quyết bằng biện pháp hành chính, hoặc chỉ nghiên cứu các giải pháp giáo dục chung. Ngược lại, các công trình về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên hầu như chỉ giới hạn ở phạm vi học đường với đối tượng học sinh trung học phổ thông. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Tiếp cận dưới góc độ quản lý giáo dục để thiết kế, vận hành và thử nghiệm mô hình tổ chức hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho nhóm trẻ em lang thang ngoài trường học, nhằm hình thành năng lực phòng ngừa tệ nạn xã hội ngay trong môi trường cộng đồng đô thị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án vận dụng hệ thống các khái niệm và cơ sở lý thuyết quản lý:
- Lý thuyết về tổ chức và chức năng tổ chức trong quản lý: Tiếp thu quan niệm của Emile Durkheim về chẩn đoán hiện tượng xã hội bình thường và bệnh lý; quan niệm của T. Reiley, Robbins và Barnwell về tổ chức như một thực thể phối hợp nguồn lực để thực hiện mục tiêu; lý thuyết hoạt động của R. Descartes, W. James và A. Leontiev (hoạt động là đơn vị của cuộc sống, bao gồm quá trình khách thể hóa chủ thể và chủ thể hóa khách thể). Chức năng tổ chức được phân tích theo hai trục: Đảm bảo cơ cấu tổ chức - nhân sự và tổ chức triển khai kế hoạch gắn liền với 4 bước kiểm tra, đánh giá (xác định tiêu chuẩn; đo lường thành tựu; xác định mức độ phù hợp; tiến hành uốn nắn, sửa chữa).
- Khái niệm trẻ em lang thang: Dựa trên cơ sở pháp lý tại Điều 3, Chương 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam (2005): "Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang".
- Khái niệm sức khỏe sinh sản và vị thành niên: Tiếp cận định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1988) và Tuyên bố của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (Cairo, 1994) khẳng định sức khỏe sinh sản là trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả các vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản; thuật ngữ vị thành niên theo G. Stanley Hall (1904) chỉ thời kỳ quá độ từ trẻ con lên người lớn. Phân chia lứa tuổi vị thành niên theo WHO gồm 3 nhóm (10-14, 15-17, 18-19 tuổi), và thực tiễn Việt Nam chia làm 2 nhóm (10-14 và 15-19 tuổi).
- Khung phân tích mô hình giáo dục: Luận án xây dựng Mô hình 1.1 liên kết các nhân tố của hoạt động giáo dục thông qua hai tam giác quan hệ: Tam giác (1) gồm Mục tiêu (MT) - Nội dung (ND) - Phương pháp (PP); Tam giác (2) gồm Lực lượng giáo dục (LLGD) - Đối tượng giáo dục (ĐTGD) - Điều kiện giáo dục (ĐKGD). Đồng thời thiết lập Mô hình 1.2 về quy trình 6 bước tổ chức giáo dục qua hoạt động (phân tích bối cảnh/đối tượng, xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, lựa chọn hình thức/phương pháp, phối hợp lực lượng, kiểm tra đánh giá gắn với cung ứng nhân lực, tài chính, vật lực).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận: Tiếp cận hệ thống và tiếp cận nhân cách. Các phương pháp thu thập và xử lý thông tin gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu, văn bản pháp quy nhằm xây dựng khung lý thuyết và hệ thống khái niệm công cụ.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng bảng hỏi an-két thu thập dữ liệu từ cán bộ quản lý và trẻ em lang thang.
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp hành vi, nhịp sống hàng ngày và biểu hiện nhân cách của trẻ em lang thang khi tiếp nhận các hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn định tính trực tiếp 3 cán bộ quản lý cộng đồng, 5 giáo dục viên/cộng tác viên và 10 trẻ em lang thang có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhằm làm rõ các rào cản và nhu cầu giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): Nghiên cứu sâu các trường hợp trẻ em lang thang có nghị lực vượt khó, không sa vào tệ nạn xã hội.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý giáo dục để hoàn thiện khung giải pháp.
- Phương pháp thử nghiệm: Tổ chức can thiệp thử nghiệm giải pháp tổ chức giáo dục trên thực địa để đánh giá tính khả thi và hiệu quả chuyển biến nhận thức, hành vi.
- Phương pháp hỗ trợ: Vận dụng thống kê toán học để phân loại và xử lý định lượng dữ liệu điều tra thực tiễn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát
Hệ thống số liệu sơ cấp của luận án được tổng hợp thông qua mẫu khảo sát định lượng tại Thành phố Hồ Chí Minh:
| Nhóm đối tượng khảo sát |
Thành phần chi tiết |
Số lượng (người) |
| Cán bộ quản lý hoạt động trẻ em tại cộng đồng |
- Cán bộ quản lý cộng đồng |
40 |
|
- Cán bộ chuyên môn về công tác xã hội, trẻ em |
70 |
|
- Giáo viên, giáo dục viên, cộng tác viên công tác trẻ em |
30 |
|
Tổng số cán bộ |
140 |
| Trẻ em lang thang (từ 10 đến 16 tuổi) |
- Sống lang thang một mình hoặc theo nhóm |
400 |
|
- Sống tại các mái ấm, nhà mở |
120 |
|
- Sống cùng cha mẹ tại nhà trọ, nhà thuê |
30 |
|
Tổng số trẻ em |
550 |
Hệ thống tư liệu thứ cấp gồm các văn bản quy phạm: Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (1989), Bộ luật Hình sự (1999), Nghị định số 87/CP (1995), Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg, Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg; số liệu của Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh, báo cáo năm 2006 của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường phát triển (CGFED), báo cáo của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, và báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Nội dung chương 1 trải dài từ trang 10 đến trang 60, tập trung giải quyết cơ sở lý thuyết, pháp lý và kinh nghiệm quốc tế:
- Luận giải bối cảnh phát triển dân số và vấn đề sức khỏe sinh sản: Dân số Việt Nam giai đoạn 1975-1990 tăng thêm 18,6 triệu người; theo Tổng điều tra dân số ngày 01/4/1999, quy mô dân số đạt trên 76 triệu người. Tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi thanh thiếu niên diễn biến phức tạp: Thống kê năm 2003 của Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em ghi nhận Thành phố Hồ Chí Minh có 114 ngàn ca nạo phá thai, Hà Nội có 48 ngàn ca và Cần Thơ có 28 ngàn ca; số liệu công bố năm 2006 của CGFED cho thấy 20% ca nạo phá thai rơi vào lứa tuổi vị thành niên, 5% nữ vị thành niên sinh con trước 18 tuổi và 15% sinh con trước 20 tuổi.
- Thống kê tình hình trẻ em lang thang trên toàn quốc: Năm 1999 có hơn 23.000 em; sau thực hiện Quyết định 134/1999/QĐ-TTg giảm còn 22.000 em; đến tháng 02/2003 theo báo cáo của Ủy ban Dân số Gia đình Trẻ em còn 20.540 em. Trong đó, 4 địa phương có trên 1.000 em gồm: Thành phố Hồ Chí Minh (6.563 em), Hà Nam (1.771 em), Hà Nội (1.600 em), Kiên Giang (1.350 em); 6 tỉnh/thành có trên 500 em và 13 tỉnh/thành có trên 200 em.
- Phân tích cơ sở pháp lý và sự cần thiết phòng chống tệ nạn xã hội: Làm rõ tác động trực tiếp của các tệ nạn xã hội (mại dâm, lạm dụng tình dục trẻ em, ma túy, cờ bạc, cướp giật) đến nguy cơ làm tha hóa nhân cách trẻ em đường phố. Phân tích Nghị định 87/CP, các điều khoản bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa theo Công ước Quốc tế 1989 và quy định xử lý người chưa thành niên phạm tội tại Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm mục đích giáo dục, phục hồi.
- Hệ thống hóa mô hình quản lý giáo dục: Trình bày chi tiết bản chất của việc tổ chức hoạt động giáo dục qua Mô hình 1.1 (sự tương tác hữu cơ giữa tam giác MT-ND-PP và tam giác LLGD-ĐTGD-ĐKGD) và Mô hình 1.2 (sơ đồ hóa các giai đoạn phân tích bối cảnh, xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, lựa chọn phương pháp, phối hợp lực lượng và kiểm tra đánh giá kết quả song hành cùng sự cung ứng nguồn nhân lực, vật lực, tài lực).
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong hoàn cảnh hiện nay: Phân tích tình hình tại thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung chương 2 (từ trang 61 đến trang 119) đi sâu vào việc khảo sát thực địa tại Thành phố Hồ Chí Minh:
- Khái quát bối cảnh địa bàn: Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn, thu hút dòng người nhập cư từ các vùng nông thôn, dẫn tới sự gia tăng số lượng trẻ em đường phố. Theo thống kê thực hiện Quyết định 19/2004/QĐ-TTg đến tháng 10/2006, thành phố đã giúp đỡ 570 trẻ em lang thang hồi gia, 800 trẻ được học nghề (trong đó 270 trẻ có việc làm ổn định). Theo số liệu của Phòng Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), tính đến tháng 3/2009, 24 quận huyện có 1.875 trẻ em lang thang. Trong đó, tập trung đông nhất tại Quận 1 (375 em), Quận Bình Thạnh (38 em), Quận Tân Phú (27 em). Tác giả chỉ ra tính kém bền vững của việc hồi gia khi nhiều trẻ em lại tiếp tục quay lại thành phố kiếm sống vào mỗi dịp hè.
- Đánh giá của cán bộ quản lý và lực lượng giáo dục: Thu thập ý kiến của 140 cán bộ (gồm lãnh đạo cơ sở, cán bộ chuyên trách công tác xã hội và cộng tác viên) về việc tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ lang thang. Phân tích năng lực chuyên môn, sự am hiểu tâm lý đối tượng và những khó khăn trong quản lý như thiếu biên chế chuyên trách, cơ sở vật chất tạm bợ, kinh phí hạn hẹp và thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành.
- Khảo sát thực trạng nhận thức và thái độ của 550 trẻ em lang thang: Đa số trẻ em lang thang trên địa bàn thiếu kiến thức căn bản về biến đổi cơ thể tuổi dậy thì, không hiểu rõ cơ chế thụ thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Trẻ em sống lang thang một mình hoặc theo nhóm (400 em) có nguy cơ tiếp xúc với tệ nạn xã hội và bị xâm hại cao hơn hẳn so với trẻ ở mái ấm (120 em) hoặc sống cùng gia đình thuê trọ (30 em). Tuy nhiên, các em đều bày tỏ nhu cầu được trang bị kiến thức để tự bảo vệ bản thân khi có môi trường tiếp cận thân thiện, không mang tính phán xét.
- Đánh giá chung: Công tác giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ lang thang tại cộng đồng vẫn mang tính vụ việc, thiếu chương trình khung chuẩn hóa, phương pháp truyền thông chưa thực sự bám sát đặc điểm tâm lý tự vệ và nhịp sống đường phố của trẻ.
Chương 3: Giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
Chương 3 (từ trang 120 đến trang 167) đề xuất và kiểm chứng hệ thống giải pháp:
- Xác lập 4 nguyên tắc định hướng xây dựng giải pháp:
- Nguyên tắc đảm bảo tính định hướng chung trong tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên: Đảm bảo mục tiêu giáo dục bám sát chủ trương nâng cao chất lượng dân số và phòng chống tệ nạn xã hội.
- Nguyên tắc tôn trọng các đặc điểm tâm lý – xã hội của trẻ em lang thang trong tổ chức giáo dục thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên: Phù hợp với tính tự lập, mặc cảm tự ti, tâm lý phòng thủ và nhu cầu kiếm sống của trẻ.
- Nguyên tắc phối hợp và phát huy thế mạnh của các lực lượng giáo dục trong tổ chức giáo dục trẻ em lang thang: Tăng cường liên kết giữa chính quyền, cơ quan công tác xã hội, tổ chức đoàn thể, mái ấm và cộng tác viên đường phố.
- Nguyên tắc đảm bảo tính hiện thực và tính khả thi: Giải pháp phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, ngân sách và nguồn nhân lực của địa phương.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý cụ thể:
- Phát huy vai trò của các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang: Tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và tư vấn tâm lý cho cán bộ quản lý cộng đồng, giáo dục viên và cộng tác viên.
- Hoàn thiện mô hình tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục về sức khoẻ sinh sản vị thành niên: Chuẩn hóa nội dung, thiết kế các hình thức giáo dục linh hoạt (sinh hoạt nhóm nhỏ, tư vấn cá nhân, lồng ghép vào hoạt động dạy nghề, sinh hoạt văn hóa tại mái ấm, nhà mở).
- Tăng cường các điều kiện hỗ trợ giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên: Đảm bảo nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước kết hợp huy động nguồn lực xã hội; cung ứng trang thiết bị, tài liệu hướng dẫn trực quan; cung cấp các dịch vụ y tế, biện pháp phòng tránh thai an toàn miễn phí.
- Tăng cường kiểm tra giám sát - xử lý hành vi vi phạm đến quyền của trẻ em lang thang; tôn vinh các tấm lòng nhân ái hỗ trợ các em: Xây dựng quy chế kiểm tra định kỳ, xử lý nghiêm minh các hành vi bóc lột, lạm dụng tình dục trẻ em; đồng thời khen thưởng, động viên kịp thời các tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em lang thang.
- Thử nghiệm các giải pháp:
- Tiến hành trưng cầu ý kiến của đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên gia (trang 150) về mức độ cấp thiết, tính khả thi và dự báo hiệu quả của 4 nhóm giải pháp. Kết quả trưng cầu đạt sự đồng thuận cao.
- Triển khai thử nghiệm thực tế một nhóm giải pháp can thiệp (trang 153) trên nhóm trẻ em lang thang được lựa chọn tại địa bàn, đối chiếu nhận thức và hành vi trước và sau tác động để kiểm chứng tính hiệu quả của mô hình tổ chức.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ nội dung tự nêu trong luận án, các đóng góp mới bao gồm:
- Về mặt lý luận: Luận án xây dựng cơ sở lý luận quản lý giáo dục đặc thù đối với đối tượng trẻ em lang thang đường phố; làm sáng tỏ các thành tố, nội dung và phương pháp tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ngoài nhà trường; xác lập mô hình liên kết các nhân tố giáo dục và quy trình phối hợp các lực lượng xã hội nhằm phục vụ mục tiêu phòng chống tệ nạn xã hội.
- Về mặt thực tiễn: Phản ánh hệ thống dữ liệu thực trạng về công tác quản lý và tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang tại Thành phố Hồ Chí Minh (khảo sát trên 140 cán bộ và 550 trẻ em); đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và tiến hành thử nghiệm thực tế khẳng định tính khả thi của giải pháp.
- Về mặt ứng dụng và kiến nghị: Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục, cán bộ công tác xã hội trong việc hoạch định kế hoạch tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản; ứng dụng xây dựng bài giảng, tài liệu hướng dẫn tư vấn cho phụ huynh và cộng đồng nhằm phòng tránh tệ nạn xã hội cho trẻ em lang thang.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo giới hạn nghiên cứu được công bố trong văn bản:
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại Thành phố Hồ Chí Minh (tại 6 quận nội thành/ven đô và 1 huyện ngoại thành); độ tuổi của trẻ em lang thang tham gia nghiên cứu giới hạn từ 10 tuổi đến 16 tuổi (chưa bao quát toàn bộ khung vị thành niên 10-19 tuổi); việc can thiệp thử nghiệm thực tế chỉ thực hiện đối với một trong các nhóm giải pháp đã đề xuất do điều kiện thời gian và nguồn lực nghiên cứu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát sang các đô thị lớn khác và các vùng giáp biên giới; nghiên cứu sâu hơn về giải pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên lồng ghép hỗ trợ việc làm bền vững cho nhóm trẻ em lang thang từ 16 đến dưới 18 tuổi; theo dõi và đánh giá tác động dài hạn đối với những trẻ em lang thang sau khi đã hồi gia hoặc hòa nhập cộng đồng.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp khung lý thuyết tổ chức hoạt động giáo dục ngoài nhà trường và các căn cứ thực tiễn để xây dựng chương trình can thiệp xã hội tại các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, cùng các tổ chức đoàn thể địa phương.
- Giáo dục viên, cán bộ xã hội và cộng tác viên tại mái ấm, nhà mở: Tham khảo các phương pháp tiếp cận thân thiện, quy trình tổ chức sinh hoạt giáo dục sức khỏe sinh sản thích ứng với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em đường phố.
- Học viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục, Xã hội học, Tâm lý học: Tham khảo phương pháp luận kết hợp nghiên cứu lý luận với điều tra xã hội học và thiết kế thử nghiệm can thiệp trên nhóm đối tượng yếu thế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm trẻ em lang thang được luận án sử dụng dựa trên cơ sở pháp lý nào và đối tượng khảo sát gồm những nhóm nào?
Luận án căn cứ theo Điều 3, Chương 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2005: "Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang". Mẫu khảo sát 550 trẻ em của luận án chia thành 3 nhóm cư trú: 400 em sống lang thang một mình hoặc theo nhóm trên đường phố; 120 em sống tại các mái ấm, nhà mở; 30 em sống cùng cha mẹ tại các nhà trọ, nhà thuê.
2. Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra thực tiễn của luận án tại Thành phố Hồ Chí Minh được xác định cụ thể như thế nào?
Luận án tiến hành khảo sát trên hai nhóm khách thể tại các Quận 1, Quận 3, Quận 5, Tân Bình, Bình Thạnh, Quận 12 và Huyện Hóc Môn:
- Nhóm cán bộ quản lý (140 người): Gồm 40 cán bộ quản lý cộng đồng, 70 cán bộ chuyên môn công tác xã hội/trẻ em, và 30 giáo viên/giáo dục viên/cộng tác viên.
- Nhóm trẻ em lang thang (550 em): Thuộc độ tuổi từ 10 tuổi đến 16 tuổi.
Ngoài ra, luận án phỏng vấn sâu 3 cán bộ quản lý, 5 giáo dục viên và 10 trẻ em lang thang, đồng thời tham vấn các chuyên gia quản lý giáo dục.
3. Mô hình liên kết các nhân tố của hoạt động giáo dục do luận án xây dựng gồm những thành tố nào?
Mô hình 1.1 trong luận án khái quát hóa hoạt động giáo dục qua hai cụm quan hệ tương tác hữu cơ:
- Tam giác số (1): Mục tiêu giáo dục (MT) - Nội dung giáo dục (ND) - Phương pháp giáo dục (PP).
- Tam giác số (2): Lực lượng giáo dục (LLGD) - Đối tượng giáo dục (ĐTGD) - Điều kiện giáo dục (ĐKGD).
Người quản lý cần vừa cụ thể hóa nội dung, lựa chọn phương pháp phù hợp với mục tiêu, vừa khơi dậy tính tự giác của người học, tạo động lực cho người dạy và đảm bảo đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất, tài chính phục vụ hoạt động.
4. Tình hình trẻ em lang thang tại Thành phố Hồ Chí Minh qua thực hiện Quyết định 19/2004/QĐ-TTg và số liệu tháng 3/2009 được ghi nhận ra sao?
Theo số liệu tổng kết thực hiện Quyết định 19/2004/QĐ-TTg đến tháng 10/2006, thành phố đã hỗ trợ 570 trẻ em lang thang hồi gia, 800 trẻ được học nghề (trong đó 270 em có việc làm ổn định). Tính đến tháng 3/2009, thống kê của 24 quận huyện ghi nhận toàn thành phố có 1.875 trẻ em lang thang; trong đó Quận 1 có số lượng đông nhất với 375 em, Quận Bình Thạnh có 38 em và Quận Tân Phú có 27 em.
5. Hệ thống giải pháp tổ chức giáo dục của luận án được xây dựng dựa trên những nguyên tắc nào?
Chương 3 của luận án xác định 4 nguyên tắc đề xuất giải pháp gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo tính định hướng chung trong tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
- Nguyên tắc tôn trọng các đặc điểm tâm lý – xã hội của trẻ em lang thang trong tổ chức giáo dục thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
- Nguyên tắc phối hợp và phát huy thế mạnh của các lực lượng giáo dục trong tổ chức giáo dục trẻ em lang thang.
- Nguyên tắc đảm bảo tính hiện thực và tính khả thi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Thạch Ngọc Yến đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang dưới góc độ khoa học Quản lý giáo dục. Bằng việc kết hợp các phương pháp điều tra xã hội học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với cơ sở lý thuyết quản lý tổ chức, công trình đã làm rõ thực trạng nhận thức, hành vi của trẻ em đường phố và năng lực của đội ngũ quản lý cơ sở. Hệ thống 4 nhóm giải pháp và quy trình tổ chức được đề xuất, thử nghiệm mang tính hệ thống, đóng góp cơ sở khoa học cho công tác quản lý giáo dục ngoài trường học nhằm hỗ trợ nhóm trẻ em thiệt thòi và phòng chống tệ nạn xã hội tại các đô thị.