Giải Pháp Tổ Chức Giáo Dục Sức Khỏe Sinh Sản Vị Thành Niên Cho Trẻ Em Lang Thang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu lý luận thực tiễn và các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản Lí Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2009

209
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRẺ EM LANG THANG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.3. Trẻ em lang thang

1.4. Hoạt động giáo dục

1.5. Tổ chức hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

1.6. Phòng chống tệ nạn xã hội

1.7. Cơ sở pháp lý của tổ chức hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang

1.8. Đặc điểm tâm lý của trẻ em lang thang

1.9. Nội dung tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục về sức khoẻ sinh sản vị thành niên

1.10. Tác dụng của việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

1.11. Kinh nghiệm thế giới

1.12. Tình hình chung

1.13. Kinh nghiệm về giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở một số nước ASEAN

1.14. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRẺ EM LANG THANG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN TRONG HOÀN CẢNH HIỆN NAY PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Tình hình trẻ em lang thang tại thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Khái quát về địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

2.3. Các hoạt động kinh tế - xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh: thành tựu và thách thức

2.4. Những tác động của tệ nạn xã hội đến với trẻ em lang thang tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.5. Thực trạng tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh

2.6. Ý kiến của cán bộ quản lí đối với việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

2.7. Phân tích chuyên môn của cán bộ quản lí, giáo dục viên, cộng tác viên tham gia việc tổ chức giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên và ý kiến của họ về đời sống của trẻ em lang thang

2.8. Nhận thức - thái độ của trẻ em lang thang về tổ chức giáo dục cho các em thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

2.9. Nhân tố tích cực trong lực lượng giáo dục trẻ em lang thang

2.10. Đánh giá chung kết quả tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

2.11. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRẺ EM LANG THANG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp

3.2. Nguyên tắc đảm bảo tính định hướng chung trong tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

3.3. Nguyên tắc tôn trọng các đặc điểm tâm lý–xã hội của trẻ em lang thang trong tổ chức giáo dục thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

3.4. Nguyên tắc phối hợp và phát huy thế mạnh của các lực lượng giáo dục trong tổ chức giáo dục trẻ em lang thang

3.5. Nguyên tắc đảm bảo tính hiện thực và tính khả thi

3.6. Các giải pháp tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

3.7. Phát huy vai trò của các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang

3.8. Hoàn thiện mô hình tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục về sức khoẻ sinh sản vị thành niên

3.9. Tăng cường các điều kiện hỗ trợ giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

3.10. Tăng cường kiểm tra giám sát - xử lý hành vi vi phạm đến quyền của trẻ em lang thang; tôn vinh các tấm lòng nhân ái hỗ trợ các em

3.11. Thử nghiệm các giải pháp được đề xuất

3.12. Trưng cầu ý kiến về tính cấp thiết, tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp

3.13. Thử nghiệm giải pháp

3.14. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Danh mục công trình được công bố

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giáo Dục Sức Khỏe Sinh Sản Cho Trẻ Lang Thang

Giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Trẻ em lang thang thường phải đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên. Việc thiếu kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ khiến các em dễ bị tổn thương và rơi vào các tệ nạn xã hội. Theo UNICEF, số lượng trẻ em lang thang trên thế giới đang gia tăng nhanh chóng do quá trình đô thị hóa. Do đó, cần có những giải pháp giáo dục phù hợp để bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của các em. Nghiên cứu của Timothy W. Bons (1992) đã chỉ ra những khó khăn mà trẻ em lang thang gặp phải tại TP.HCM, nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình hỗ trợ giáo dục.

1.1. Tầm quan trọng của giáo dục giới tính cho trẻ em đường phố

Giáo dục giới tính cho trẻ em đường phố giúp các em hiểu rõ về cơ thể, sự phát triển và những thay đổi ở tuổi dậy thì. Điều này giúp các em tự tin hơn trong việc đối diện với những vấn đề liên quan đến tình yêu tuổi học trò, tình dục an toànphòng tránh thai. Ngoài ra, giáo dục giới tính còn giúp các em nhận biết và phòng tránh xâm hại tình dục, một vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay.

1.2. Nguy cơ sức khỏe sinh sản vị thành niên ở trẻ em lang thang

Trẻ em lang thang thường không được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Điều này dẫn đến nguy cơ cao mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, mang thai ngoài ý muốnnạo phá thai. Hậu quả của những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của các em.

II. Thách Thức Giáo Dục Sức Khỏe Sinh Sản Cho Trẻ Em Lang Thang

Việc tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang gặp nhiều khó khăn do đặc điểm tâm lý và hoàn cảnh sống của các em. Trẻ em lang thang thường có môi trường sống phức tạp, thiếu sự quan tâm của gia đình và xã hội. Các em cũng có thể có những trải nghiệm tiêu cực như bị bạo hành, lạm dụng hoặc chứng kiến các tệ nạn xã hội. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức và thay đổi hành vi của các em. Theo thống kê của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường phát triển (CGFED), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó có tới 20% là ở lứa tuổi vị thành niên.

2.1. Rào cản tâm lý và xã hội đối với trẻ em lang thang

Trẻ em lang thang thường có tâm lý tự ti, mặc cảm và thiếu tin tưởng vào người khác. Các em cũng có thể có những hành vi chống đối xã hội do cảm thấy bị bỏ rơi và không được quan tâm. Ngoài ra, môi trường sống phức tạp với nhiều tệ nạn xã hội cũng là một rào cản lớn đối với việc giáo dục các em.

2.2. Thiếu nguồn lực và cơ sở vật chất cho giáo dục

Việc tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang đòi hỏi nguồn lực lớn về tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất. Tuy nhiên, hiện nay, các tổ chức xã hội và nhà nước còn gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu này. Cần có sự chung tay của cả cộng đồng để tạo điều kiện tốt nhất cho việc giáo dục các em.

2.3. Sự phối hợp giữa các tổ chức và cá nhân còn hạn chế

Để đạt hiệu quả cao trong việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xã hội, nhà nước, gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay, sự phối hợp này còn hạn chế, dẫn đến việc các chương trình giáo dục chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

III. Cách Tổ Chức Giáo Dục Sức Khỏe Sinh Sản Hiệu Quả Cho Trẻ

Để tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản hiệu quả cho trẻ em lang thang, cần có những phương pháp tiếp cận phù hợp với đặc điểm tâm lý và hoàn cảnh sống của các em. Các chương trình giáo dục cần được thiết kế một cách thân thiện, dễ tiếp cậntôn trọng quyền riêng tư của các em. Ngoài ra, cần tạo ra một môi trường an toàn và tin cậy để các em có thể thoải mái chia sẻ những vấn đề của mình. Nghiên cứu của Phạm Đức Quang (2003) đã đề xuất các giải pháp giáo dục phù hợp với trẻ em lang thang Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường hỗ trợ và khuyến khích sự tham gia của các em.

3.1. Xây dựng chương trình giáo dục phù hợp với lứa tuổi và văn hóa

Chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và văn hóa của trẻ em lang thang. Nội dung cần được trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu và sử dụng các hình thức trực quan sinh động như trò chơi, video, hình ảnh. Ngoài ra, cần chú ý đến các vấn đề nhạy cảm và tôn trọng sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo.

3.2. Sử dụng phương pháp giáo dục chủ động và tương tác

Phương pháp giáo dục cần khuyến khích sự tham gia chủ động và tương tác của trẻ em lang thang. Các em cần được tạo cơ hội để đặt câu hỏi, chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản. Các hoạt động nhóm, trò chơi đóng vai và thảo luận tình huống là những phương pháp hiệu quả để thu hút sự chú ý và khuyến khích sự tham gia của các em.

3.3. Tạo môi trường an toàn và tin cậy cho trẻ em

Để trẻ em lang thang có thể thoải mái chia sẻ những vấn đề của mình, cần tạo ra một môi trường an toàn và tin cậy. Các em cần cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và không bị phán xét. Người giáo dục cần có thái độ thân thiện, nhạy cảm và sẵn sàng hỗ trợ các em khi cần thiết.

IV. Hướng Dẫn Phát Huy Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội

Các tổ chức xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang. Các tổ chức này có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợgiáo dục cho các em. Ngoài ra, các tổ chức xã hội cũng có thể vận động chính sách và nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này. Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Phương (2004) đã chỉ ra vai trò quan trọng của các nhóm trẻ em lang thang trong việc hỗ trợ và giáo dục lẫn nhau, nhấn mạnh sự cần thiết của việc tạo điều kiện cho các nhóm này hoạt động.

4.1. Tăng cường hợp tác giữa tổ chức phi chính phủ và nhà nước

Cần tăng cường sự hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủnhà nước trong việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang. Các tổ chức phi chính phủ có kinh nghiệm và chuyên môn trong việc làm việc với trẻ em lang thang, trong khi nhà nước có nguồn lực và quyền lực để thực hiện các chính sách và chương trình quy mô lớn.

4.2. Nâng cao năng lực cho cán bộ và tình nguyện viên

Cần nâng cao năng lực cho cán bộ và tình nguyện viên làm việc với trẻ em lang thang về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Các cán bộ và tình nguyện viên cần được đào tạo về sức khỏe sinh sản, tâm lý trẻ em, kỹ năng giao tiếpkỹ năng giải quyết vấn đề.

4.3. Vận động chính sách và nâng cao nhận thức cộng đồng

Cần vận động chính sách để tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang. Ngoài ra, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của vấn đề này và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động giáo dục.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình Giáo Dục Tại TP

Tại TP. Hồ Chí Minh, đã có nhiều mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang được triển khai. Các mô hình này thường tập trung vào việc cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản, phòng tránh thai, bệnh lây truyền qua đường tình dụckỹ năng sống. Tuy nhiên, hiệu quả của các mô hình này còn hạn chế do nhiều yếu tố như thiếu nguồn lực, sự phối hợp chưa chặt chẽ và sự tham gia của trẻ em lang thang còn thấp. Nghiên cứu của Võ Trung Tâm (2005) đã khảo sát thực trạng trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố tại TP.HCM, cung cấp thông tin quan trọng để xây dựng các chương trình giáo dục phù hợp.

5.1. Đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục hiện tại

Cần đánh giá một cách khách quan và toàn diện hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản hiện tại cho trẻ em lang thang tại TP. Hồ Chí Minh. Việc đánh giá cần dựa trên các tiêu chí cụ thể như kiến thức, thái độ, hành vi và sự tham gia của trẻ em lang thang.

5.2. Điều chỉnh và cải thiện các mô hình giáo dục

Dựa trên kết quả đánh giá, cần điều chỉnh và cải thiện các mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các em. Việc điều chỉnh cần dựa trên các bằng chứng khoa học và kinh nghiệm thực tiễn.

5.3. Nhân rộng các mô hình giáo dục thành công

Các mô hình giáo dục sức khỏe sinh sản thành công cho trẻ em lang thang cần được nhân rộng ra các địa phương khác tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác trên cả nước. Việc nhân rộng cần được thực hiện một cách có kế hoạch và bài bản.

VI. Tương Lai Giáo Dục Sức Khỏe Sinh Sản Cho Trẻ Em Lang Thang

Việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang là một quá trình lâu dài và cần có sự cam kết của cả cộng đồng. Trong tương lai, cần tiếp tục đầu tư vào các chương trình giáo dụchỗ trợ cho trẻ em lang thang. Đồng thời, cần tạo ra một xã hội bình đẳngkhông phân biệt đối xử để trẻ em lang thang có cơ hội phát triển toàn diện. Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (1994) đã khẳng định con người là trung tâm của sự phát triển bền vững, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao quyềnsức khỏe cho mọi người, đặc biệt là những nhóm dễ bị tổn thương.

6.1. Nâng cao nhận thức về quyền trẻ em và sức khỏe sinh sản

Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền trẻ emsức khỏe sinh sản, đặc biệt là quyền của trẻ em lang thang. Việc nâng cao nhận thức cần được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông, các hoạt động giáo dục và các chương trình vận động chính sách.

6.2. Xây dựng hệ thống hỗ trợ toàn diện cho trẻ em lang thang

Cần xây dựng một hệ thống hỗ trợ toàn diện cho trẻ em lang thang, bao gồm các dịch vụ giáo dục, y tế, tư vấn, pháp lýhỗ trợ xã hội. Hệ thống hỗ trợ cần được thiết kế một cách dễ tiếp cận, thân thiệntôn trọng quyền riêng tư của trẻ em lang thang.

6.3. Đảm bảo sự tham gia của trẻ em lang thang vào quá trình ra quyết định

Trẻ em lang thang cần được tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến cuộc sống của các em. Các em cần được tạo cơ hội để bày tỏ ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm và đóng góp vào việc xây dựng các chính sách và chương trình hỗ trợ.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ lý luận thực tiễn và các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên (từ trang 10 đến trang 60). Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong hoàn cảnh hiện nay: Phân tích tình hình tại thành phố Hồ Chí Minh (từ trang 61 đến trang 119). Chương 3: Giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên (từ trang 120 đến trang 167). Kết luận và khuyến nghị (từ trang 168 đến trang 172).

15 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRẺ EM LANG THANG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề  Trẻ em lang thang và tệ nạn xã hội tác động đến trẻ em lang thang ở một số nước trên thế giới Ước tính trên toàn cầu tổng số trẻ em lang thang có khoảng 100 triệu em, một nửa số này ở châu Mỹ La Tinh. Con số này đang tăng lên nhanh chóng do quá trình đô thị hoá phát triển. Theo Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), trẻ em lang thang trên thế giới thường xuyên bị bóc lột.

70% tập trung ở châu Mỹ La tinh, châu Phi châu Á. Riêng tại châu Á, có khoảng 25 triệu đến 30 triệu trẻ em dưới 18 tuổi do thiếu hiểu biết đã bị đẩy vào tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy. Ở Châu Á, số trẻ em trai lang thang nhiều hơn em gái. Các em gái ít gặp trên đường phố hơn, bởi vì số em gái bỏ nhà ra đi hoặc bị gia đình ruồng bỏ ít hơn; cũng có nguyên nhân các em gái được các nhà chức trách thu gom nhanh hơn [69, tr.

Một khảo sát khác của UNICEF, trẻ em và nhóm vị thành niên ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương về tình trạng thất học và nguyên nhân cho biết: 19% trẻ em trả lời rằng các em không thích đi học, không thích trường học. Khoảng 22% đã bỏ học để đi làm kiếm sống, trong số này có nhiều em cho biết là không đi học vì thiếu tiền, có 21% đưa ra lý do là cần phải giúp công việc nhà cho cha mẹ, 4% nêu lý do là không có trường để đi học. 16 z Ở vùng Hạ Xa-ha-ra, Châu Phi, ước tính có khoảng 11 triệu trẻ em bị mồ côi do dịch bệnh AIDS. Đối với những trẻ em bị mồ côi cả cha lẫn mẹ cơ hội đi học còn ít hơn nhiều.

Các em gái thậm chí còn ít có cơ hội học hành hơn nữa so với các em trai vì chúng thường phải gánh vác trách nhiệm nặng nề trong việc chăm sóc những người thân bị ốm. Trong rất nhiều gia đình, những người có liên quan đến HIV thu nhập của họ lại rất kém không thể cho con đến trường. Các trường học cũng chịu nhiều tổn thất do giáo viên bị ốm và chết vì HIV/AIDS. Mỗi năm, có hàng triệu trẻ em bị bóc lột, lao động kiếm sống từ rất nhỏ không được bảo vệ.

Một khảo sát gần đây của UNICEF về các hộ gia đình, được thực hiện ở 25 nước châu Phi thuộc vùng Hạ Xa-ha-ra cho thấy: 31% trẻ em từ 5-14 tuổi lao động trong những điều kiện tồi tệ nhất, chẳng hạn như làm nô lệ, buôn lậu và bị tuyển mộ bắt buộc cho những mục đích xung đột vũ trang, mại dâm, 9% tham gia vào các công việc độc hại, nặng nhọc như làm việc hơn 43 giờ một tuần đe doạ tình trạng sức khoẻ, trong số này trẻ gái thường gắn vào các công việc độc hại nhiều hơn trẻ trai. Tại Philippines, năm 1991 có trên 200 ngàn trẻ em lang thang đường phố và năm 1999 con số đã lên đến hàng triệu em. Hiện nay, một số các nước đang phát triển trẻ chỉ mới lên 8 tuổi đã lang thang, trong khi các nước phát triển, trẻ em lang thang lớn hơn 12 tuổi. Theo nghiên cứu của Võ Trung Tâm, riêng thủ đô Manila, có 80.000 trẻ em lang thang.

Hoạt động xã hội chăm sóc trẻ em lang thang tại các mái ấm, nhà mở ở nước này có những thành công nhất định. Tại trung tâm lưu xá Shelter Tahanan thành phố Manila nhân viên xã hội đã trợ giúp cho 300 trẻ em từ 7 đến 17 tuổi về tư vấn tâm lý, trợ giúp, phục hồi và định hướng giáo dục cho các em. Tại Mông Cổ, thời gian gần đây gặp nhiều khó khăn về kinh tế, số trẻ em lang thang đường phố lên đến 3000 em. Tại Thành phố Ulanbator có trên 380 em.

Hầu hết các em này thường ca hát xin ăn trên đường phố hoặc dọc theo tàu 17 z hoả, một số khác lượm ve chai, lượm rác để kiếm tiền mua thức ăn. Nơi cư trú của các em là trên đường phố hoặc trong các căn hầm của hệ thống cống rãnh. Theo báo cáo của UNICEF Mông Cổ thì chính phủ đang cố gắng tìm mọi biện pháp ngăn chặn trẻ em phải sống trong các hệ thống hầm này. Ở Bangladesh, trẻ em lang thang trên đường phố gia tăng nhanh.8 triệu trẻ em, đến năm 2000 có trên 3 triệu.

Tổ chức hợp tác phi chính phủ về trẻ em đường phố tại Bangladesh cho biết 30% trẻ em từ 10- 14 tuổi phải lao động kiếm sống nhiều em trở thành TELT; tại thành phố Dhaka, trẻ em lang thang đường phố là 215.000 là trẻ em gái [43, tr. Tại Nhật Bản, theo số liệu năm 2000 của Bộ Xã hội và Bộ Y tế Nhật Bản thì số trẻ em lang thang cũng có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân do sự xung đột trong quan hệ gia đình các em buồn chán đi lang thang. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, hàng năm có khoảng 12 triệu trẻ em bị buôn bán để trở thành lao động bắt buộc hoặc làm mại dâm. Có nhiều lý do khác nhau khiến cho trẻ em ở tuổi vị thành niên phải kiếm sống và nương thân ngoài đường phố, như nhà cửa đổ nát, gia đình ly tán do bất hòa hay chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp quân sự.

Trẻ em có thể bị đẩy ra đường do đói nghèo cùng cực, bạo lực hoặc bị ngược đãi trong gia đình, hoặc mâu thuẫn với họ hàng. Các em phải tìm cách trốn khỏi sự ngược đãi về thể xác lẫn tinh thần. Một số các em do học hành thất bại, sức khỏe tâm thần suy giảm, buồn chán, quan hệ bạn bè không vừa ý cũng rơi vào tình trạng lang thang. Từ cuộc sống lang thang, thất học lại phải lao động sớm, trẻ em lang thang đường phố do thiếu hiểu biết bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật xấu, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, như sử dụng, buôn bán ma túy rồi đưa đến nhiễm HIV/AIDS.

18 z Do hoàn cảnh kinh tế, chỗ ở bấp bênh, thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, nên thanh thiếu niên không nhà, không cửa thường bị thiếu ăn, sức khỏe kém, nghiện ma túy, bị lạm dụng tình dục và nhiễm HIV/AIDS. Trẻ em lang thang thường bị coi là mối đe doạ đối với trật tự. Thanh thiếu niên lang thang đường phố là mục tiêu để những tệ nạn xã hội tấn công và gây ảnh hưởng đến cộng đồng. Trước nguy cơ này lực lượng gìn giữ, trật tự xã hội thường đối xử khắt khe với các em [87, tr.

 Trẻ em lang thang và tệ nạn xã hội tác động đến các em Trẻ em lang thang tại Việt Nam không phải đến nay mới xuất hiện. Tình hình này đã có từ lâu, nhưng chưa là vấn đề lớn gây bức xúc cho xã hội. Từ khi phát triển kinh tế thị trường trong xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, nhóm trẻ em lang thang xuất thân từ nhóm dân cư vùng nông thôn khó khăn, ít có cơ hội tiếp cận giáo dục và nghề nghiệp có thu nhập cao nên nhóm người nghèo khó ngày càng gia tăng. Theo nghiên cứu của Timothy W.

Bon “Nghiên cứu về trẻ em bụi đời tại Hà Nội” cho thấy: Ở hầu hết các quốc gia tại các đô thị đều có trẻ bụi đời hay trẻ em lang thang. Chính quyền các nước này thường xem đó là vấn đề xã hội cần phải giải quyết nhanh chóng. Với mục tiêu là làm sao cho tình trạng này không còn hoặc giảm đi đáng kể họ thường dùng biện pháp hành chính thu gom trẻ em lang thang ra khỏi đường phố, bất kể trẻ em thuộc thành phần nào, phần lớn là đưa các em vào các trường trại, tách với môi trường xã hội và cộng đồng. Trẻ em lang thang là những đối tượng đặc biệt chịu nhiều thiệt thòi, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em do Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20/11/1989 (chính phủ Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990) đã quy định rõ quyền của các em, việc bảo vệ, chống lại sự lạm dụng và sao nhãng (Điều 19), bảo vệ trẻ em không gia đình (Điều 20).

19 z Mặc dầu rất được quan tâm, nhưng vẫn tồn tại số trẻ em lang thang đường phố bị thờ ơ, xua đuổi và gạt ra ngoài các lợi ích. Trẻ em lang thang đường phố do vậy ít có cơ hội được hưởng những dịch vụ xã hội thiết yếu như giáo dục, y tế. Tại Việt Nam theo Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội năm 1999 cả nước hiện có khoảng trên 23.000 trẻ em lang thang. Sau 3 năm thực hiện quyết định của 134/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, số trẻ em lang thang còn 22.000 em và đến tháng 2 năm 2003 theo Báo cáo của Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em 58 tỉnh, thành phố số TELT giảm còn 20.540 em, với:  4 tỉnh, thành phố có trên 1.000 em: Hà Nội 1.600 em, Thành phố Hồ Chí Minh 6.563 em, Hà Nam 1.771 em và Kiên Giang 1.

 6 tỉnh, thành phố còn trên 500 em gồm: Hải Phòng 640 em, Hưng Yên 510 em, Thanh Hoá 766 em, Thừa Thiên Huế 538 em, Bà Rịa – Vũng Tàu 700 em, Quảng Ngãi 504 em.  13 tỉnh, thành phố trên 200 gồm: Nam Định 420 em, Quảng Ninh 287 em, Quảng Trị 200 em, Đà Nẵng 213 em, Quảng Nam 235 em, Khánh Hoà 381 em, Ninh Thuận 200 em, Lâm Đồng 320 em, Đồng Tháp 203 em, An Giang 300 em, Sóc Trăng 213 em, Bạc Liêu 450 em, Nghệ An 290 em.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Giải Pháp Tổ Chức Giáo Dục Sức Khỏe Sinh Sản Cho Trẻ Em Lang Thang cung cấp những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao nhận thức và giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ em lang thang. Nội dung tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục sức khỏe sinh sản từ sớm, giúp trẻ em có kiến thức cần thiết để bảo vệ bản thân và phát triển toàn diện. Bên cạnh đó, tài liệu cũng đề cập đến các phương pháp tổ chức giáo dục hiệu quả, từ đó tạo ra môi trường an toàn và hỗ trợ cho trẻ em.

Để mở rộng thêm kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ em, bạn có thể tham khảo tài liệu Kiến thức thực hành phòng chống suy dinh dưỡng của bà mẹ người mnông có con từ 0 24 tháng tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng tại xã yang mao huyện krông bông tỉnh đắk lắk năm 2017. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, một yếu tố quan trọng trong việc phát triển sức khỏe và giáo dục cho trẻ em.