CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 1. Lý luận về phát triển sản phẩm thủ công truyền thống 1. Lý luận về sản phẩm thủ công truyền thống 1.
Một số khái niệm liên quan sản phẩm thủ công truyền thống * Làng nghề, làng nghề truyền thống và nghề truyền thống Làng, tên gọi gắn với địa danh ở nước ta xuất hiện từ lâu đời, gắn với nền nông nghiệp nông thôn, là nơi sản sinh ra nhiều ngành nghề khác nhau để mưu sinh. Qua thời gian lịch sử, quá trình phát triển được hình thành từ vài gia đình đến dòng họ rồi đến cả làng xóm và hình thành các ngành nghề truyền thống và làng nghề truyền thống. Trải qua thời gian dài của lịch sử, lúc thịnh lúc suy, có nghề được bảo tồn, phát triển, có nghề bị mai một hoặc mất hẳn, có nghề mới ra đời. Các sản phẩm của làng nghề, làng nghề truyền thống ngày nay mang dấu ấn tinh hoa nền văn hóa, văn minh dân tộc.
Trong làng nghề sẽ có loại làng nghề lâu đời, truyền thống, có làng nghề mới xuất hiện, có loại làng chỉ có một nghề và có loại làng nghề lại có nhiều nghề. Theo Nghị định 52/2018 của Chính phủ, Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này. Các hoạt động ngành nghề nông thôn Các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định trong Nghị định này bao gồm: 1. Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản.
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn. Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ. Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh.
Sản xuất muối. Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn [2] 7 --- Nghị định 52 cũng đưa ra khái niệm về làng nghề truyền thống và nghề truyền thống: - “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” - “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.” [2] * Nghề thủ công truyền thống và sản phẩm thủ công truyền thống Theo Dương Bá Phượng: “Nghề thủ công truyền thống bao gồm những ngành nghề phi nông nghiệp có từ trước thời thuộc Pháp còn tồn tại cho đến ngày nay. Nghề thủ công truyền thống còn bao hàm cả những ngành nghề được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng phải tuân thủ công nghệ truyền thống, thể hiện được những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam”[10]. Theo tác giả, có thể phân chia ngành nghề thủ công truyền thống thành các nhóm chính là: + Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, thêu, ren, thảm, khảm, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, chạm, mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm, mây tre đan các loại,… + Các ngành nghề sản xuất công cụ sản xuất như rèn, sắt, làm cày bừa, nông cụ, đóng thuyền,… + Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, sọt, bồ; bện thừng, chạo, dệt vải; may mặc, … + Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang, sản xuất vật liệu xây dựng,… + Các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm như xay xát, làm bún, bánh, đường, mật, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các loại,… [10] Từ các nghề thủ công truyền thống đó qua hàng triệu đến hàng vạn năm cách ngày nay, đã tạo ra các sản phẩm truyền thống mang tính thủ công để phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau của đời sống xã hội loài người.
Đầu tiên, con người đã làm ra các sản phẩm thủ công với khoảng 12 loại nguyên liệu: đá, gỗ, tre, vỏ sò, vỏ ốc, đất, vỏ cây, dây leo, xương, sừng, ngà, da,… nhưng khi đó thủ công chưa phải là nghề chuyên nghiệp, nó chỉ phục vụ cho việc hái lượm, sắn bắt của con người [15]. 8 --- Sau hàng ngàn, hàng vạn năm từ thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới, nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi) ra đời và thủ công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp và theo hướng chuyên môn hoá. Bên cạnh nông dân, một tầng lớp thợ thủ công được hình thành như thợ gốm, thợ rèn, sắt, thợ mộc, thợ nề, sau đó là thợ kim hoàn, thợ thêu, thợ nhuộm, thợ mây tre đan, thợ sơn son thếp vàng,… cũng dần hình thành và phát triển. Các sản phẩm từ những người thợ đó cũng rất phong phú, đa dạng [15].
Các sản phẩm từ nghề rèn sắt, tiện, đồng như cuốc, cày, xẻng, liềm, hái, dao, rựa,… đến các sản phẩm thờ cúng như Tượng Phật, tháp đồng, chuông đồng, lư đồng,…; các sản phẩm nghề dệt, thêu như trang phục hàng ngày, trang phục, lọng lễ nghi, thờ cúng,…; sản phẩm nghề kim hoàn, dát vàng như đồ trang sức, đồ dùng, tủ thờ, liễn,…; sản phẩm nghề mộc, gỗ, khắc ván in, tạc tượng, sơn vẽ; nghề da; nghề đan; nghề làm lược; nghề giấy; nghề khảm trai; nghề khắc đá; nghề chế tạo súng; nghề xây dựng; nghề nấu kẹo mạch nha, bún, bánh,… [15]. Từ một vài người thợ của một nghề, đã đào tạo thành nhiều người thợ trong một làng, một vùng, tạo thành các làng chuyên biệt. Làng ở nước ta trước đây cũng khá đơn giản, ban đầu chủ yếu là làng tiểu nông, sau đó tính chuyên biệt đã dần dà tạo ra làng ruộng (làng làm ruộng là chính), làng vườn (làng làm vườn vùng Nam Bộ), làng nghề (Bát Tràng, Triều Khúc, Kim Bồng, làng Vân…), làng buôn (Đồng Kỵ, Đa Ngưu, Đình Bảng, Phú Thị,…) làng chài (ven sông, ven biển),… [15]. Như vậy sản phẩm thủ công truyền thống hay hàng thủ công truyền thống, theo Bùi Văn Vượng là hàng do các nghệ nhân và thợ thủ công trong các làng nghề - sản xuất theo từng công đoạn của toàn bộ dây chuyền công nghệ, có sự hiệp tác nhiều người lao động cá thể làm ra [15].
Đặc điểm của sản phẩm thủ công truyền thống Theo Bùi Văn Vường, hàng thủ công truyền thống có những đặc điểm sau: - Trong sản phẩm thủ công, văn hoá tinh thần kết tinh trong văn hoá vật thể. Những con rồng, phượng, rùa, lân được chạm khắc ở các đình chùa, hoa văn trang trí trên các trống đồng, Cửu đỉnh, men màu trên đồ gốm sứ, đồ án hoa văn họa tiết trên sản phẩm thêu, dệt vải, lụa, thổ cẩm,… trước hết đó là văn hóa vật thể, nhưng chúng hàm chứa những quan niệm tư tưởng triết học Phương Đông, triết lý về trời - đất - con người, quan niệm về tôn giáo và thần quyền, đặc biệt còn là triết lý đạo Phật, đạo Giáo, đạo Nho (Khổng, Mạnh) và triết lý kinh dịch. 9 --- Sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam bao giờ cũng phản ánh sâu sắc tư tưởng, tình cảm và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam. Giá trị mỗi sản phẩm thủ công được khách hàng trong và ngoài nước nhìn nhận chủ yếu từ góc độ văn hóa nghệ thuật dân tộc, và sau đó mới đến vấn đề kĩ thuật và kinh tế.
- Tính cá biệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét đặc trưng địa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng. Hàng chạm trổ trên từng chất liệu khác nhau (gỗ, đá, đồng, sưng, xương…), hàng sơn (sơn quang, sơn then, sơn thiếp vàng bạc, sơn mài), hàng thêu, dệt (tơ lụa, chiếu, thảm), hàng mây tre đan, kim hoàn, đồ chơi … ở mỗi làng nghề đều có màu sắc riêng, từng nghệ nhân cũng có những nét riêng. Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua giao lưu, được chọn lọc, được thừa nhận để tồn tại và phát triển, cùng với sự bổ sung lẫn nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện hoàn mỹ cho những sản phẩm cùng loại được sản xuất, chế tác tiếp sau. - Hàng thủ công là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ những thành tựu kĩ thuật – công nghệ truyền thống, phương pháp thủ công tinh xảo, với đầu óc sáng tạo nghệ thuật.
Mô hình biểu diễn như sau: Phương pháp thủ Sự sáng tạo Hàng thủ công công tinh xảo nghệ thuật mỹ nghệ Giao kết giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân và thợ thủ công, để tạo ra hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng, và nói chung là sản phẩm thủ công truyền thống. Sự giao kết này kéo theo những đặc thù khác trong sự phát triển hàng thủ công: + Tính riêng, tính đơn chiếc mạnh hơn tính đồng loạt. + Chiều sâu nhiều hơn chiều rộng – mang tính trường phái, gia tộc, giữ bí quyết trong sáng tạo hơn là sự phổ cập, phổ biến rộng rãi. + Đầy chất trí tuệ, trí thức tích tụ lâu đời.
10 --- + Sử dụng hàng thủ công phải đồng thời thưởng thức nghệ thuật và tư tưởng tướng trí tuệ. - Yếu tố văn hóa đậm nét của hàng thủ công truyền thống đã tạo nên vị trí quan trọng của các sản phẩm này trên thương trường và giao lưu quốc tế. Xưa nay, người nước ngoài hiểu và yêu mến Việt Nam, làm bạn với nhân dân Việt Nam là qua yếu tố gì? Dĩ nhiên là thông qua, hay chủ yếu, là yếu tố văn hóa. Không coi nhẹ các yếu tố khác, nhưng không thấm nhuần một nền văn hóa nào cả thì mọi hoạt động sẽ bị quên đi, ít ra là sẽ tự nó nhạt phai đi.
Thật may mắn, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, cũng như bất cứ của dân tộc nào khác, chất văn hóa lại rất đậm đà. Trên các sản phẩm thủ công mỹ nghệ thường biểu đạt phong cảnh sinh hoạt, con người, cảnh quan thiên nhiên, lễ hội truyền thống, quan điểm về tự nhiên, biểu tượng thần, Phật… Những nét chấm phá nghệ thuật trên tranh sơn mài, tấm lụa, những bức chạm khắc gỗ, khám xà cừ…. với cánh cò bay, mái đình, cành trúc uốn cong, cây đa, con đò bến nước… đã thể hiện đất nước, con người và tâm hồn tình cảm Việt Nam, làm cho người nước ngoài yêu mến nhân dân và đất nước Việt Nam. - Yếu tố kinh tế của hàng thủ công truyền thống.