lời mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng thƣơng mại cho doanh nghiệp Quốc Phòng Chƣơng 2:Thực trạng phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân đội – chi nhánh Hƣng Yên cho doanh nghiệp Quốc Phòng. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Hƣng Yên cho doanh nghiệp doanh nghiệp Quốc Phòng. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHO DOANH NGHIỆP QUỐC PHÒNG 1. SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CHO DOANH NGHIỆP QUỐC PHÒNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƢỜNG 1.
Hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng trong cơ chế thị trường Trong nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập Quốc tế nhƣ hiện nay, các doanh nghiệp Quốc Phòng ngoài chức năng chính trị, vẫn tham gia sản xuất và xây dựng nền kinh tế, hoạt động theo ba nhiệm vụ chính: Hoạt động theo nhiệm vụ quốc phòng an ninh: Doanh nghiệp Quốc Phòng là một bộ phận của doanh nghiệp Nhà nƣớc, trực thuộc Bộ Quốc phòng. Đây là lực lƣợng nòng cốt của Quân đội thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc; đồng thời, giữ gìn, phát triển năng lực sản xuất phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Quan điểm phát triển doanh nghiệp theo hƣớng nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ Quốc Phòng an ninh gắn với hiệu quả SXKD và hội nhập kinh tế quốc tế. Đội ngũ cán bộ, nhân viên của DNQP ngoài trình độ chuyên môn, cần có kiến thức QPAN và bản lĩnh chính trị; trong đó, ƣu tiên đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ trình độ cao và công nhân kỹ thuật lành nghề, làm mũi nhọn dẫn hƣớng cho quá trình phát triển.
Doanh nghiệp Quốc phòng sau khi chuyển đổi hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, nhƣng vẫn không tách rời sự quản lý của Bộ Quốc phòng. Vì vậy, mọi quy chế, quy định quản lý, điều hành của doanh nghiệp phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nƣớc và quy định của Bộ Quốc phòng. 7 Hoạt động theo nhiệm vụ kinh tế: Doanh nghiệp Quốc Phòng tham gia xây dựng kinh tế, trực tiếp tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải là một tất yếu khách quan, là bƣớc phát triển mới của quốc sách “ngụ binh ƣ nông” trong lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc. Các doanh nghiệp quân đội không những góp phần gìn giữ tiềm lực quốc phòng mà còn tạo ra sản phẩm cho xã hội, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động.
Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng các doanh nghiệp quân đội phải tính đến yếu tố đặc thù và phải phát huy đƣợc lợi thế của các doanh nghiệp quân đội. Hoạt động tự doanh theo cơ chế thị trường: Cũng nhƣ các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp Quốc Phòng tham gia xây dựng nền kinh tế cũng chịu tác động của những quy luật kinh tế tất yếu, quy luật cung – cầu của thị trƣờng. Từ năm 2010 đến nay, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nƣớc, đã có trên 150.000 doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc phá sản, nhƣng các doanh nghiệp Quốc Phòng vẫn đứng vững, hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật, nhiều doanh nghiệp có tốc độ tăng trƣởng cao, bƣớc đầu xây dựng đƣợc thƣơng hiệu mà quân đội có tiềm năng nhƣ: viễn thông, bay dịch vụ, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ cảng biển, đóng tàu, xây dựng, khai thác khoáng sản. Các doanh nghiệp Quốc Phòng đứng chân trên các địa bàn chiến lƣợc đã kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, góp phần quan trọng vào ổn định, phát triển kinh tế xã hội, phân bố lại cơ cấu kinh tế, dân cƣ, xóa đói giảm nghèo, tăng cƣờng Quốc phòng an ninh trên địa bàn.
Theo tổng hợp của Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng): trong năm 2014, khối doanh nghiệp quân đội (100% vốn Nhà nƣớc) có doanh thu tăng 11%, lợi nhuận tăng 27%, nộp ngân sách Nhà nƣớc tăng 24% so với năm 2013. Các doanh nghiệp Quân Đội tham gia góp vốn cũng đạt mức tăng trƣởng cao hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành nghề. Nhiều ngƣời còn có quan niệm cho rằng, doanh nghiệp Quốc Phòng có lợi nhuận cao, doanh thu lớn là do đƣợc bao cấp, nhƣng thực tế không phải nhƣ vậy. 8 Các doanh nghiệp Quốc Phòng đều bình đẳng với các doanh nghiệp khác theo Luật Doanh nghiệp, không đƣợc ƣu tiên, thậm chí còn không đƣợc tham gia một số dự án có sự tham gia tài trợ của quốc tế.
“Bí quyết" khiến những doanh nghiệp quân đội kinh doanh tốt chính là tính kỷ luật, cách dùng ngƣời và phát huy đƣợc vai trò, sức mạnh của công tác Đảng-công tác chính trị. Ví dụ, tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), phƣơng châm của ngân hàng là “tạo sự khác biệt và bền vững bằng văn hóa kỷ luật, đội ngũ nhân sự tinh thông về nghiệp vụ, cam kết cao và đƣợc tổ chức khoa học”. Phân loại nhu cầu sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp quốc phòng Nhu cầu sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho nhiệm vụ an ninh, quốc phòng: Ngân hàng thƣơng mại thực hiện việc cấp vốn cho các công trình quốc phòng an ninh. Đây là hầu hết là những công trình, dự án lớn của Chính phủ, Bộ Quốc phòng đòi hỏi nguồn vốn tƣơng đối lớn và yêu cầu cao với các doanh nghiệp tham gia triển khai.
Hầu hết với các công trình này, NHTM tham gia cung cấp một phần vốn, thƣờng là nguồn vốn dài hạn có thể bằng nội tệ hoặc ngoại tệ. Bên cạnh đó, ngân hàng thƣơng mại còn cung cấp vốn để thực hiện chi trả các khoản theo chế độ quân nhân, các khoản chi trả thuộc ngân sách nhà nƣớc cho hoạt động chính trị - xã hội của Quân Đội. Nhu cầu sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho các hoạt động kinh doanh: Các doanh nghiệp Quốc Phòng trong cơ chế thị trƣờng vẫn có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng nhƣ các doanh nghiệp khác để duy trì, phát triển hoạt động kinh doanh của mình. Đây là những hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trƣờng, nằm ngoài nhiệm vụ quốc phòng an ninh.
Các sản phẩm dịch vụ này cũng tƣơng tự nhƣ các sản phẩm dịch vụ cho các doanh nghiệp khác, nó bao gồm một số sản phẩm chính: 9 Dịch vụ huy động vốn: Huy động vốn là hình thức nhận tiền gửi tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp Quốc Phòng để tạo ra nguồn vốn có tỷ trọng lớn nhất, ổn định nhất để cung cấp cho ngƣời cần vốn. Tùy theo mục đích khác nhau của doanh nghiệp và của việc sử dụng vốn trong ngân hàng mà có các loại tiền gửi khác nhau nhƣ: + Theo thời gian có các kỳ hạn gửi từ 1 tuần, 1 tháng, 1 năm hoặc vài năm. + Theo mục đích gửi tiền: tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm cho con, tiết kiệm hƣu trí, tiết kiệm giáo dục.(áp dung đối với cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Quốc Phòng) Dịch vụ cho vay: Hoạt động cho vay là hoạt động tƣơng đối đặc trƣng và phổ biến của các ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển các dịch vụ tín dụng càng đƣợc mở rộng, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng phát triển mang tính toàn cầu.
Để duy trì hoạt động kinh doanh của mình đạt hiệu quả và phát triển trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp Quốc Phòng ngoài vốn tự có cũng có nhu cầu sử dụng vốn vay từ Ngân hàng để đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra thƣờng xuyên, liên tục, không bị gián đoạn. Tùy theo mục đích sử dụng vốn vay của DNQP, ngân hàng cũng cung cấp một số hình thức cho vay tƣơng ứng: + Cho vay ngắn hạn: nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lƣu động thƣờng xuyên của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ việc mua sắm nguyên liệu, hàng hóa đầu vào, chi trả lƣơng cho cán bộ công nhân viên…Có 2 hình thức cho vay ngắn hạn thƣờng xuyên áp dụng với các doanh nghiệp này là cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay theo món. + Cho vay trung, dài hạn: nhằm tài trợ nhu cầu đầu tƣ vào tài sản cố định của doanh nghiệp, tài trợ các dự án phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp… Một số sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu này cho các doanh nghiệp Quốc Phòng chủ yếu bao gồm: cho vay mua ô tô, cho vay mua ô tô siêu tốc, cho vay tài trợ dự án, cho vay mua máy móc thiết bị, cho vay đầu tƣ xây dựng nhà xƣởng… 10 Dịch vụ bảo lãnh: Đây là loại dịch vụ lƣỡng tính, vừa tín dụng, vừa phi tín dụng. Nghĩa vụ của doanh nghiệp Quốc phòng đƣợc ngân hàng đảm bảo trong các giao dịch kinh tế, ngƣợc lại các doan nghiệp này phải có nghĩa vụ đối với ngân hàng về khoản tiền, vật chất mà ngân hàng đã trả cho bên thứ ba.
Một số loại bảo lãnh chủ yếu là: + Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của ngân hàng với bên mời thầu bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của các doanh nghiệp Quốc Phòng. Trong trƣờng hợp các doanh nghiệp này bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Thực chất mục đích của bảo lãnh dự thầu là bảo đảm việc ngƣời dự thầu không rút lui, không ký hợp đồng hoặc thay đổi ý định khi đã trúng thầu. + Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: ngân hàng phát hành cho các DNQP bảo đảm việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết.
Trong trƣờng hợp doanh nghiệp này không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết. + Bảo lãnh tạm ứng: Ngân hàng phát hành cho DNQP về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trƣớc của khách hàng theo hợp đồng đã ký với bên nhận bảo lãnh. Trong trƣờng hợp doanh nghiệp này vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả số tiền cung ứng trƣớc cho bên nhận bảo lãnh thì ngân hàng sẽ hoàn trả số tiền ứng trƣớc cho bên nhận bảo lãnh.