CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TỪ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP LỚN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TỪ CÁC DOANH NGHIỆP LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về doanh nghiệp lớn 1. Khái niệm doanh nghiệp lớn Sẽ có những ý kiến khác nhau về các công ty lớn ở mỗi quốc gia.
Mặt khác, các tiêu chí được sử dụng trong cùng một quốc gia để chỉ định các DNVVN khác nhau tùy theo khoảng thời gian và loại hình công ty. Tại Việt Nam, hiện vẫn chưa có khái niệm cụ thể về DNL mà cơ bản chỉ dựa trên quy mô của DN để đánh giá, xác định DN đó thuộc loại hình nào. Có hai tiêu chí chủ yếu để đánh giá DN lớn là tổng NV của DN đạt trên 100 tỷ đồng hoặc số người LĐ từ tổng 300 người. Theo chính sách nội bộ của Vietcombank, KHDNL là khách hàng không phải là người nước ngoài (tức là khách hàng có tỷ lệ góp vốn dưới 20% trên tổng vốn đăng ký của công ty), có hạn mức tín dụng lũy kế tại Vietcombank trên 200 tỷ đồng, hoặc có doanh thu thuần trong 2 năm gần nhất trên 500 tỷ đồng.
KHDNL được định nghĩa là KHDNL không phải là DN nước ngoài và có quy mô tiền gửi bình quân trên 50 tỷ đồng trong hai năm liên tiếp, trong trường hợp Vietcombank không có thông tin về tình hình TC của DN. Đặc điểm của Doanh nghiệp lớn Theo cơ chế hoạt động, các DNL đều có các đặc điểm cơ bản như sau: - Hoạt động của doanh nghiệp: Sự hiện diện lâu dài trên thị trường khiến các doanh nghiệp lớn thường có hoạt động rất ổn định, tăng liên tục và ít thay đổi. Trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế khốc liệt, các doanh nghiệp lớn với quy mô tốt có thể tồn tại và thành công. Các DNVVN có nhiều khả năng thích ứng với những thay đổi kinh tế hơn so với các doanh nghiệp lớn vì tính linh hoạt của họ tăng lên.
Các công ty thường sử dụng một hệ thống sản xuất khổng lồ, khiến họ gặp khó khăn trong việc thích nghi 9 với các điều kiện thị trường thay đổi khi nền kinh tế thay đổi. Sức nặng của cơ cấu quản lý và phản ứng chậm trễ đối với những thay đổi nhanh chóng trên thị trường là những vấn đề khác mà các doanh nghiệp lớn gặp phải. - Ngành nghề kinh doanh đa dạng: Do quy mô và nguồn lực của mình, các DNL có thể tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là những lĩnh vực quan trọng như công nghiệp nặng, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, thời trang và khai khoáng,. Về dịch vụ, các tập đoàn lớn thường tập trung vào những thứ như: dịch vụ viễn thông, vận tải trong và ngoài nước, … Một thế mạnh khác của DN lớn là về thương mại: tham gia mua bán, phân phối sản phẩm, nguyên vật liệu trong nước và quốc tế….
- Chu kỳ kinh doanh: Nếu như các DN nhỏ và vừa có chu kỳ kinh doanh theo mùa, có lợi thế trong việc chớp thời cơ nhanh chóng dù là không ổn định thì chu kỳ kinh doanh của các DN lớn thường diễn ra đều đặn và có sự ổn định cao. Vậy nên, các DN lớn rất tập trung vào việc lập chiến lược phát triển dài hạn nhằm phát triển bền vững hơn. - Thị trường cạnh tranh: Vì các sản phẩm của DN lớn thường là các sản phẩm thiết yếu, có ảnh hưởng lớn lên nền kinh tế nên khả năng cạnh tranh của các DN lớn là không hề thấp. Sự canh tranh mà các DN lớn thường gặp phải đến từ chính các doanh nghiệp lớn khác trong nước cũng như ngoài nước do các DN quy mô nhỏ hơn không có đủ nguồn lực và kinh phí để cạnh tranh.
- Khả năng HĐV dễ dàng: So với các DNVVN thì DN lớn có thương hiệu sẽ uy tín hơn, có khả năng chịu đựng và vượt qua những biến động tiêu cực dù lớn bé của thị trường, vị thế đàm phán với các nhà cung cấp cao hơn nên khả năng HĐV của các DN lớn dưới các hình thức như HĐV ngân hàng, HĐV thương mại, HĐV từ các quỹ đầu tư, phát hành trái phiếu,. đều tương đối tốt. Vậy nên, với vị thế, độ uy tín và tiềm lực kinh tế vững vàng, việc HĐV của DN lớn diễn ra nhanh chóng hơn với lượng lớn và chi phí huy động rẻ từ ngân hàng và thị trường cho phép các công ty lớn huy động tiền nhanh hơn. Vai trò của doanh nghiệp lớn Các doanh nghiệp lớn có một bộ phận không thể phủ nhận và hết sức quan trọng 10 trong nền kinh tế của mọi quốc gia, kể cả những quốc gia có trình độ phát triển tiên tiến và phát triển cao.
Các yếu tố sau thể hiện cách thức hoạt động của các doanh nghiệp lớn: Thứ nhất, DN lớn có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân vì nắm giữ những ngành then chốt, có tính độc quyền. Các DN lớn vẫn có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần do vậy những thay đổi trong chính sách kinh doanh của các doanh nghiệp dù nhiều hay ít đều sẽ có ảnh hưởng đến nền kinh tế. Không những thế, một vài DN lớn là DN có vốn nhà nước nên Chính phủ có thể thông qua các DN này để thay đổi, điều chỉnh các yếu điểm trong nền kinh tế. Thứ hai, các DN lớn tạo ra một khối lượng việc làm lớn và chịu trách nhiệm trong việc thúc đẩy nền kinh tế.
Thứ ba, các DN lớn đóng góp một lượng lớn GDP trong kinh tế của quốc gia. Các DN lớn có thể nhanh chóng thích ứng và có được khoa học và công nghệ tiên tiến nhất hiện có vì họ có nguồn tiền dồi dào và tiềm lực kinh tế đáng kể. Doanh nghiệp lớn chủ động hơn trong cân đối sản xuất kinh doanh do có lợi thế hơn doanh nghiệp nhỏ và vừa về sức mạnh cạnh tranh về vốn, nhân lực, uy tín thương hiệu. Thay vì tập trung hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
Rõ ràng là các DN lớn hiện đang đóng vai trò chủ chốt với sự tăng trưởng của nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới. Huy động vốn từ các doanh nghiệp lớn của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn từ các doanh nghiệp lớn của Ngân hàng thương mại Hoạt động HĐV hay còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi được mô tả như sau tại Khoản 13 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010: “Nhận tiền gửi là việc tổ chức, cá nhân nhận tiền dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, vận đơn và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ gốc và lãi.” Việc HĐV xuất phát từ nhu cầu của ngân hàng cần có nguồn vốn để thực hiện các 11 hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài nguồn vốn tự có như vốn điều lệ, các quỹ và lợi nhuận giữ lại thì ngân hàng còn có nguồn vốn huy động.
Ngoài ra, đây là nơi mà phần lớn vốn của ngân hàng được hình thành. Đây là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng thu được từ các cá nhân, tổ chức có ý nghĩa kinh tế và xã hội thông qua quá trình thực hiện nghiệp vụ tiền gửi và các nghiệp vụ khác và được sử dụng làm vốn cho hoạt động của ngân hàng. Việc HĐV có thể đến từ nhiều chủ thế trong xã hội trong đó không thể không kể đến các DN lớn. Có thể hiểu rằng, HĐV từ các DN lớn của NHTM chính là việc NHTM thu hút nguồn vốn từ chủ thể là các DN lớn trong nền kinh tế thông qua các hình thức như nhận (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm…); phát hành các công cụ nợ (trái phiếu, tín phiếu,)….để cho vay, đầu tư hay thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Sự cần thiết phải huy động vốn từ doanh nghiệp lớn của ngân hàng thương mại ➢ Đối với nền kinh tế Bằng cách cân bằng các nguồn vốn và thặng dư và thâm hụt vốn, HĐV có thể làm giảm lạm phát bằng cách điều chỉnh lượng tiền tham gia và quá trình lưu chuyển tiền tệ, cũng như bằng cách cung cấp hàng hóa cho thị trường tài chính. Hoạt động HĐV của NHTM là rất quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế vì chúng giúp thúc đẩy phát triển sản xuất và ổn định thị trường tiền tệ. Cầu nối cung cầu vốn trong nền kinh tế là HĐV từ kinh doanh đáng kể của các NHTM. Các DN tham gia sản xuất và bán hàng hóa và dịch vụ có một thành phần tài chính nhàn rỗi và không liên quan đến quá trình tái sản xuất, chẳng hạn như tiền dành cho việc mua nguyên vật liệu nhưng chưa thanh toán hoặc khấu hao tài sản cố định chưa sử dụng hết.
Các DN liên tục đầu tư những khoản tiền mặt này để kiếm lợi nhuận. Đây là một nguồn lực kinh tế cho tư bản có thể tồn tại. Trong khi đó, các DN không thể đáp ứng nhu cầu sản xuất và tài chính của họ tồn tại. Các DN thường gặp trực tiếp và tình cờ để phân phối các khoản vay.
Để đồng tiền phát huy hiệu quả hơn, hoạt động HĐV của các NHTM xây dựng cầu nối nhằm thỏa mãn nhu cầu huy động và phân bổ tiền giữa các doanh nghiệp. Do các tập đoàn lớn thường có nhiều tiền nhàn rỗi nên các ngân hàng có thể triển khai vốn từ nguồn này nhanh hơn và hiệu quả hơn để tài trợ cho các doanh nghiệp và các tổ 12 chức kinh tế khác. ➢ Đối với ngân hàng thương mại Vốn huy động có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Có thể khẳng định rằng, nâng cao hiệu quả HĐV là một vấn đề hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển không ngừng của các ngân hàng thương mại.
- Các doanh nghiệp, đặc biệt là DNL, thường mở tài khoản tại NHTM để tăng cường vốn huy động nhanh chóng và hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trọng với các doanh nghiệp lớn vì chúng thường có số tiền tạm thời không sử dụng được trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Qua việc cho vay và khấu hao, những DN này có thể tạo ra nguồn lực tài chính tiềm năng đáng kể cho ngân hàng. Sự HĐV này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay của ngân hàng.