Chương 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ VÀ PHÂN CHIA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 1. Khái quát Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam 1. Định nghĩa Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần phải được thực hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số. Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến cổ đông thiểu số, nhằm bảo về các quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông thiểu số.
Nguồn của pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam là các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến công ty cổ phần nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng. Tùy vào quy mô và lĩnh vực hoạt động, CTCP chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước sau: Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBCKNN, các Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán, cơ quan quản lý thuế, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, hệ thống cơ quan thống kê. Do vậy, hệ thống pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số ở nước ta, ngoài việc được quy định chủ yếu tại Luật công ty 1990 và các Luật doanh nghiệp, còn xuất hiện ở Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán (Liên quan đến các công ty cổ phần niêm yết chứng khoán), hay ở Bộ luật tố tụng dân sự, Luật trọng tài thương mại (Liên quan đến cơ chế khởi kiện), và các nghị định hướng dẫn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thi hành những văn bản pháp luật nêu trên… Tuy nhiên trong khả năng giới hạn của mình, em chỉ xin phép nghiên cứu sự phát triển của pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam qua Luật công ty và các Luật doanh nghiệp quy định trực tiếp về công ty cổ phần ở Việt Nam. Khái quát về Cổ đông, Cổ đông thiểu số, Nhóm cổ đông trong Công ty cổ phần 1.
Cổ đông Theo cách hiểu đơn giản nhất, Cổ đông là cá nhân hay tổ chức tham gia góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phần. Khoản 2 Điều 4 LDN 2014 định nghĩa “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần”. Mặc dù hiện nay pháp luật Việt Nam không có quan niệm về CTCP một cổ đông, và tại Điểm b Khoản 1 Điều 110 LDN 2014 quy định trong CTCP “số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa”. Nhưng trên thực tế ở Việt Nam vẫn có CTCP một cổ đông.
Theo nghiên cứu của PGS.TS Ngô Huy Cương, pháp luật nhiều nước trên thế giới thừa nhận và điều tiết CTCP một thành viên [2, tr. Trong CTCP, các cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Mọi CTCP đều phải lập sổ đăng ký cổ đông theo quy định của Pháp luật. Sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này; được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty hoặc Trung tâm lưu ký chứng khoán.
Cổ đông có quyền kiểm tra, tra cứu hoặc trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông. Khoản 2 Điều 121 LDN 2014 quy định sổ đăng ký cổ đông phải có các nội dung chủ yếu sau đây: - Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; - Tổng số cổ phần được quyền chào bán, loại cổ phần được quyền chào bán và số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tổng số cổ phần đã bán của từng loại và giá trị vốn cổ phần đã góp; - Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số quyết định thành lập, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; - Số lượng cổ phần từng loại của mỗi cổ đông, ngày đăng ký cổ phần. Như vậy, dưới góc độ pháp lý để xác lập tư cách cổ đông của CTCP, tổ chức, cá nhân phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện: (i) tổ chức, cá nhân phải sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP và(ii) những thông tin về tổ chức, cá nhân phải được ghi đúng và đủ theo quy định của Pháp luật vào Sổ cổ đông của công ty. Tóm lại theo các quy định của pháp luật hiện hành, Cổ đông là cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của CTCP và được đăng ký vào Sổ cổ đông của công ty.
* Căn cứ quyền/nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà cổ đông sở hữu, cổ đông được phân loại thành: - Cổ đông sáng lập: là những cổ đông đầu tiên góp vốn để hình thành nên CTCP. - Cổ đông phổ thông: là người sở hữu cổ phần phổ thông trong CTCP, và thường chiếm đa số trong CTCP. - Cổ đông ưu đãi: là người sở hữu cổ phần ưu đãi trong CTCP. Cổ đông ưu đãi có quyền và lợi ích đặc biệt mà cổ đông phổ thông không có như quyền ưu đãi biểu quyết, quyền ưu đãi cổ tức, quyền ưu đãi hoàn lại.
Trong đó, cổ đông ưu đãi biểu quyết hay còn gọi là cổ đông đặc biệt là cổ đông (thường là Nhà nước) mặc dù có thể chỉ nắm một số lượng cổ phần nhỏ, mang tính chất tượng trưng, nhưng có quyền phủ quyết trong một số quyết sách quan trọng (được quy định trong điều lệ công ty) của CTCP. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ, cổ đông được phân loại thành: - Cổ đông lớn: Tỷ lệ để có thể coi là cổ đông lớn thường do điều lệ CTCP quy định trên cơ sở tuân thủ luật pháp. Theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 thì cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành được coi là cổ đông lớn. - Cổ đông nhỏ: Nếu suy ra từ Luật Chứng khoán, thì cổ đông nhỏ là những cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành.
* Căn cứ vào khả năng chi phối công ty, cổ đông được phân loại thành: Cổ đông đa số và Cổ đông thiểu số 1. Cổ đông thiểu số Hiện nay ở Việt Nam tồn tại một số quan điểm về CĐTS như sau: Quan điểm thứ nhất định nghĩa CĐTS dựa trên định nghĩa về cổ đông lớn. Hiện nay có hai văn bản luật trực tiếp quy định về cổ đông lớn đó là Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Luật chứng khoán 2006. Luật Các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa “Cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần” (Khoản 26 Điều 4).
Tương tự, Luật chứng khoán 2006 cũng quy định “Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành” [21, Điều 6, Khoản 9]. Do Luật các tổ chức tín dụng và Luật chứng khoán đều đưa ra một tỷ lệ chính xác là 5% để phân định ranh giới giữa cổ đông lớn và loại cổ đông còn lại trong CTCP nên những người theo quan điểm này cho rằng cổ đông nhỏ (cổ đông thiểu số) là cổ đông sở hữu dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết. Cách hiểu dựa trên ranh giới về tỷ lệ sở hữu cổ phần như trên không hơ ̣p lý vì những tỷ lệ này không phản ánh được đầy đủ bản chất của CĐTS, những tỷ lệ này được quy định để ghi nhận các quyền lợi cho cổ đông lớn. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm thứ hai cho rằng CTCP là loại công ty đối vốn, cổ đông góp nhiều vốn (cổ phần) thì sẽ có nhiều phiếu biểu quyết hơn so với các cổ đông khác và ngư ợc lại.
Họ hiểu CĐTS là những cổ đông sở hữu ít vốn, một tỷ lệ phần trăm nhỏ cổ phầ n có quy ền biểu quyết trong CTCP. Cách tiếp cận này đúng nhưng chưa đủ vì có trường hợp khi các cổ đông nhỏ lẻ tập hợp lại thành Nhóm cổ đông lại chi phối được công ty và các cổ đông được coi là cổ đông lớn lại bị lép vế trước nhóm cổ đông này. Ví dụ, trường hợp CTCP có 46 cổ đông, trong đó có 01 cổ đông sở hữu 10% cổ phần của công ty và 45 cổ đông còn lại mỗi cổ đông sở hữu 2% cổ phần của công ty. Nếu xét về tỷ lệ cổ phần sở hữu trong công ty thì cổ đông sở hữu 10% cổ phần là cổ đông lớn (theo quy định của Luật chứng khoán 2006, Luật các tổ chức tín dụng 2010).
Và cổ đông nắm giữ 2% cổ phần là các CĐTS. Nhưng trong trường hợp tất cả các cổ đông nắm giữ 2% cổ phần tập hợp nhau lại, tạo thành nhóm cổ đông sở hữu 90% cổ phần của công ty thì cổ đông sở hữu 10% cổ phần trong công ty lại ở vào vị trí của CĐTS do bị hạn chế về khả năng chi phối công ty. Quan điểm thứ ba, theo quan điểm của Tiến sĩ Bùi Xuân Hải thì khi định nghĩa CĐTS, ta phải dựa trên cả hai yếu tố: (i) thứ nhất, là phần vốn góp của họ (tỉ lệ phần trăm) trong vốn điều lệ của công ty và (ii) thứ hai, là khả năng của họ trong việc tác động tới chính sách kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển, lựa chọn người quản lý công ty hay nói cách khác là vai trò của họ khi biểu quyết thông qua các vấn đề tại cơ quan quyền lực cao nhất trong công ty [6, tr. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đồng tình với quan điểm này.