CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ 1. Một số khái niệm a. Đầu tư Thuật ngữ đầu tư được hiểu và trình bày trong sách báo kinh tế ở nước ta dưới nhiều góc độ khác nhau.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam (1995), đầu tư là hành động “bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hay vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hoá, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng”. Cách định nghĩa này nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư, nhưng không làm rõ bản chất của đầu tư cũng như chưa phản ánh được đầy đủ nội dung của đầu tư. Theo Giáo trình Kinh tế đầu tư của Trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS.Nguyễn Ngọc Mai chủ biên thì “đầu tư là sự bỏ ra, sự huy sinh những cái gì đó ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai”. Định nghĩa này nêu được đặc tính khái quát của đầu tư là hành vi bỏ vốn trong hiện tại nhằm đạt lợi ích trong tương lai.
Tuy nhiên, với cách tiếp cận quá rộng như vậy có thể gây nhằm lẫn giữa hành vi lao động bình thường (bỏ sức lao động) với hành vi đầu tư thực sự của chủ đầu tư. Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam (Số 59/2005/QH11): “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Về mặt khoa học, cách định Luan van 8 nghĩa này quá chung chung và trùng lập khi sử dụng thuật ngữ “hoạt động đầu tư” để định nghĩa đầu tư. Nhà kinh tế học P.Samuelson cho rằng đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thật sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho.
Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng năng lực, nghiên cứu, phát minh, … Theo Ông trong thuật ngữ tài chính, đầu tư mang một nghĩa hoàn toàn khác, dùng để chỉ mua một loại chứng khoán, do đó không phải là đầu tư thật sự của nền kinh tế. Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai”, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư.Samuelson nêu ra trong các cách tiếp cận về đầu tư đã cho thấy đầu tư là hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thu nhập cao hơn trong tương lai và đó là quá trình chứa đựng những rủi ro. Điều đó không chỉ nói lên kết quả của đầu tư mà còn chỉ rõ nguồn gốc của đầu tư trên giác độ cá nhân cũng như trên phạm vi nền kinh tế, thể hiện các mối quan hệ thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư. Đồng thời ông cũng xác định các dạng chính của đầu tư, trong đó bao quát được cả hoạt động đầu tư khoa học, kỹ thuật và phát triển con người.
Dù đưa ra các định nghĩa khác nhau về đầu tư, đa số các nhà kinh tế cho rằng, nội dung cơ bản của khái niệm đầu tư phải bao hàm các khía cạnh sau đây: Thứ nhất, đầu tư là hành động mang tính tích luỹ. Để có vốn đầu tư, nhà đầu tư phải hy sinh một phần tiêu dùng hiện tại. Do đó nhà đầu tư luôn so sánh giữa đầu tư và tiêu dùng hiện tại trong các quyết định đầu tư. Nếu lợi ích từ đầu tư (lãi suất, lợi nhuận, tăng giá từ tài sản hình thành của vốn đầu tư, …) Luan van 9 lớn hơn lợi ích của tiêu dùng hiện tại thì sẽ khuyến khích họ đầu tư, ngược lại tiêu dùng hiện tại quan trọng hơn giá trị gia tăng do đầu tư đem lại thì tiêu dùng sẽ ưu tiên hơn.
Thứ hai, mục đích của đầu tư luôn luôn là giá trị lớn hơn trong tương lai. Bất cứ khoản vốn đầu tư nào cũng chỉ được bỏ ra khi nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu hồi vốn và có lãi trong tương lai. Thứ ba, quyết định đầu tư phụ thuộc vào tính toán của nhà đầu tư. Nhưng xét tổng thể nền kinh tế, thì việc bảo toàn vốn và đem lại lãi cho các nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào tình trạng chung của nền kinh tế quốc gia và thị trường thế giới.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi cơ chế thị trường tụ phát còn quyết định trạng thái chung của nền kinh tế, thì tính bất ổn của các chu kỳ kinh tế dẫn đến các rủi ro đầu tư. Độ bất ổn càng lớn, mức độ rủi ro càng cao. Rủi ro sẽ cản trở đầu tư. Cùng với xu hướng phát triển chung của xã hội, hoạt động đầu tư trở thành nhân tố không thể thiếu cho phát triển sản xuất và gia tăng nguồn lực tài chính cho nền kinh tế.
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm khác nhau khi nhìn nhận về đầu tư. Một khái niệm chung nhất về đầu tư đó là: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp mà việc bỏ vốn đầu tư nhằm gia tăng giá trị tài sản. Thực chất của việc đầu tư này là để tạo ra những năng lực mới; hoặc cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực hiện có phục vụ cho mục tiêu phát triển.
Đầu tư phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển Luan van 10 kinh tế, là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng, tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Vốn đầu tư Cùng với các nguồn lực khác, vốn là một trong những nhân tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Nó góp phần tạo ra thu nhập, là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vốn là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, nhưng đồng thời bản thân nó lại là kết quả đầu ra của quá trình sản xuất đó.
Để có quá trình sản xuất, cần phải có tài sản sản xuất như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, nhà xưởng … Toàn bộ số tiền và các giá trị các tài sản được đưa vào đầu tư để tạo ra các tài sản sản xuất được gọi là vốn sản xuất. Vốn sản xuất là tòan bộ giá trị của những giá trị được sử dụng làm phương tiện phục vụ cho quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, có bộ phận vốn sản xuất bị hư hỏng, hao mòn cần phải được sửa chữa, thay thế để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra bình thường, liên tục. Để đáp ứng nội dung này cần phải có vốn để tiến hành các họat động đầu tư, vốn trong trường hợp này gọi là vốn đầu tư.
Mặt khác, trong kinh tế thị trường và trước yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đã tác động trực tiếp đến quá trính sản xuất của xã hội, làm cho họat động sản xuất không ngừng mở rộng về quy mô, nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ, … do vậy cần phải có vốn đầu tư để đáp ứng được những yêu cầu đó trong quá trình tăng trưởng, phát triển nền kinh tế quốc dân. Vốn đầu tư là sự biểu hiện bằng tiền các khỏan mục chi phí gắn liền với nội dung của các họat động đầu tư. Để rõ hơn nguồn gốc vốn đầu tư, hay nguồn gốc các khoản tiền bỏ ra đầu tư, ta nghiên cứu bản chất nguồn vốn đầu tư. Luan van 11 - Bản chất của nguồn vốn đầu tư Muốn thực hiện quá trình đầu tư sản xuất, cần có các nguồn đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động.
Khỏan tiền cần có trang trải các chi phí ứng trước này là vốn đầu tư. Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số của cải đã làm ra, sau khi trừ đi phần tiêu dùng. Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay từ tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế chính trị học Mác – Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh.
+ Theo quan điểm của C.Mác, con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng. Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng từ sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế. + Tạo lập vốn đầu tư là nguồn hình thành nên tiết kiệm. Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, một đại diện của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “Tiết kiệm là nguồn nhân trực tiếp gia tăng vốn.
Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù nó tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”. + Quan điểm về bản chất của vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, Jonh Maynard Keynes đã chứng minh được rằng: “Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng.
Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng”. Tức là: Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư Luan van 12 Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng Như vậy: Đầu tư = Tiết kiệm Theo Keynes đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ.