CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm a.
Nông nghiệp + Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là một hệ thống sinh học, kỹ thuật. Theo nghĩa rộng, ngành nông nghiệp gồm ba lĩnh vực là nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Theo nghĩa hẹp, chỉ gồm lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi.
Trong quá trình phát triển, nông nghiệp đi lên từ phương thức sản xuất tự cung tự cấp, tiến đến một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và phát triển cao trở thành một nền nông nghiệp thương mại hóa có phạm vi không chỉ trong một quốc gia mà trên toàn cầu. - Nông nghiệp tự cung tự cấp là hình thức người nông dân hay cộng đồng tự sản xuất để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm, vải vóc và nhu cầu sinh sống khác mà không cần đến các hoạt động mua bán trên thị trường. - Nông nghiệp hàng hóa là hình thức sản xuất lấy việc trao đổi, mua bán nông sản trên thị trường làm mục tiêu chính để phát triển. Bên cạnh việc đáp ứng đủ nhu cầu cho người sản xuất, sản phẩm nông nghiệp còn dư thừa để tiến hành trao đổi trên thị trường.
Nông nghiệp hàng hóa ở mức thấp của quá trình thương mại hóa trong nông nghiệp xét theo quy mô và phạm vi. - Nông nghiệp thương mại hóa là nền nông nghiệp đạt ở mức cao. Quy mô, phạm vi rộng hơn so với nông nghiệp hàng hóa trên nhiều yếu tố của quá Luan van 11 trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ như quy mô sản xuất, thị trường, lực lượng sản xuất, kênh phân phối. Sự tác động của khoa học và công nghệ, sự phát triển của giao thông vận tải đã liên kết mọi miền, mọi quốc gia làm cho SXNN và kinh doanh nông sản được chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội phát triển.
Quá trình thương mại hóa nông nghiệp là quá trình của sự hình thành và phát triển các hoạt động kinh doanh nông sản, liên kết các khâu từ sản xuất, phân phối và tiêu dùng. + Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai và cây trồng làm nguyên liệu chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho công nghiệp, đáp ứng các nhu cầu xã hội. Phân loại ngành trồng trọt. Có nhiều cách khác nhau để có thể phân loại, cụ thể: Theo đặc điểm của cây trồng, gồm nhóm cây hạt ngũ cốc, nhóm cây đậu cho hạt, nhóm cây có sợi, nhóm cây lấy củ.; Theo công dụng, gồm các nhóm cây lương thực, cây cho sợi….; Theo điều kiện khí hậu, gồm cây ôn đới, cây á nhiệt đới, cây nhiệt đới; Theo thời gian của chu kỳ sinh trưởng, gồm có cây hàng năm, cây lâu năm.
+ Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất của nông nghiệp, đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. - Xu hướng tiêu dùng có tính quy luật chung: Xã hội càng phát triển, mức tiêu dùng của người dân về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm. Do vậy, mức đầu tư của xã hội cho ngành chăn nuôi có xu hướng tăng nhanh và ngày càng cao ở hầu hết các nền nông nghiệp. Sự chuyển đổi có tính quy luật trong đầu tư phát triển SXNN là chuyển dần từ sản xuất trồng trọt sang chăn nuôi và ngành trồng trọt chuyển hướng sang phát triển cây trồng làm thức ăn chăn nuôi.
- Phương thức chăn nuôi: Gồm phương thức chăn nuôi tự nhiên, Luan van 12 phương thức chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi sinh thái. - Phân loại ngành chăn nuôi: Theo đặc điểm vật nuôi, gồm chăn nuôi gia súc, gia cầm; Theo giống vật nuôi, gồm chăn nuôi bò, chăn nuôi gà, ngựa; Theo sản phẩm đầu ra, gồm chăn nuôi bò lấy sữa, chăn nuôi bò thịt,. Phát triển nông nghiệp. + Phát triển kinh tế: Hiện tại có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển kinh tế, Giáo trình kinh tế phát triển của Trường cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội cho rằng “Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm cả về lượng và chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia”.
Với cách hiểu đó, phát triển kinh tế được khái quát theo bốn nội dung: Thứ nhất, gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế, mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người; đây là nội dung thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của mọi người dân trong một quốc gia và thực hiện các nội dung khác của phát triển. Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ; đây là chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia. Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo cơ sở cho việc đạt được tiến bộ xã hội một cách sâu rộng. Thứ ba, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế; đó là quá trình sử dụng và tái đầu tư hợp lý để duy trì qui mô và chất lượng các nguồn lực nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và liên tục, đồng thời nền kinh tế đó đủ khả năng vượt qua biến động của khủng hoảng kinh tế, thị trường cũng như tác động của thiên tai.
Thứ tư, nâng cao chất lượng cuộc sống từ kết quả tăng trưởng, đó là kết quả của nâng cao thu nhập đầu người, phân phối thu nhập công bằng, xóa bỏ nghèo đói, nâng cao phúc lợi cho mọi người dân,. Sự phát triển như trên chỉ mới đặt ra sự thay đổi về lượng và chất của tăng trưởng khi gắn sự gia tăng thu nhập với việc giải quyết tốt hơn những Luan van 13 vấn đề của xã hội, mà chưa quan tâm đến vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường sống của con người. Vì vậy, khái niệm về phát triển bền vững ra đời. + Phát triển bền vững: Theo giáo trình kinh tế phát triển của PGS.Bùi Quang Bình, Trường đại học Đà Nẵng-Trường đại học kinh tế [5] cho rằng “phát triển bền vững, đó là sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của nền kinh tế, đồng thời với việc lành mạnh hóa xã hội và bảo vệ môi trường”.
Như vậy phát triển bền vững với ba nội dung cơ bản: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, và bền vững về môi trường. Các tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; nâng cao chất lượng môi trường sống; hợp tác xuyên quốc gia và toàn cầu về các vấn đề phát triển bền vững cũng phải được quan tâm nhằm giải quyết những khía cạnh mang tính quốc tế của phát triển bền vững như vấn đề nghèo đói, khí thải, biến đổi khí hậu. + Phát triển nông nghiệp: Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc gia, nên những nội dung của phát triển kinh tế nêu trên cũng là những nội dung chủ yếu mà quá trình phát triển nông nghiệp cần phải đạt tới. Phát triển nông nghiệp là quá trình vận động của ngành nông nghiệp nhằm chuyển đổi nền nông nghiệp từ sản xuất thủ công sang sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp và hiện đại; chuyển nền nông nghiệp tự cung, tự cấp thành nền nông nghiệp hàng hóa, cao hơn là nền nông nghiệp thương mại hóa; và xây dựng nền nông nghiệp đáp ứng các mục tiêu của phát triển.
+ Phát triển nông nghiệp bền vững: Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, tổ chức sinh thái và môi trường thế giới cho rằng nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không Luan van 14 giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Như vậy, nền nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản là: đảm bảo nhu cầu nông sản của loài người hiện nay và duy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau, bao gồm gìn giữ được quĩ đất, quĩ nước, quĩ rừng, không khí và khí quyền, tính đa dạng sinh học v. Xây dựng nền nông nghiệp bền vững là việc làm cấp thiết và là xu hướng tất yếu của tiến trình phát triển bền vững. + Xu hướng phát triển nông nghiệp: Do quá trình của sự hội nhập nền kinh tế toàn cầu, sự phân công lao động và chuyên môn hóa ngày một phát triển.
Do phát triển mạnh mẽ của thị trường và sự đa dạng về nhu cầu tiêu dùng mà hiện nay phát triển nông nghiệp luôn đi kèm với các tiêu chí: Sản xuất nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị ngành hàng nông sản; Sản xuất nông nghiệp gắn với liên kết vùng nhằm tận dụng được lợi thế của qui mô và đẩy mạnh sản xuất hàng hóa; Sản xuất nông nghiệp bền vững góp phần thực hiện các nội dung của phát triển bền vững quốc gia, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm thấp so với các ngành kinh tế khác. Như vậy, phát triển nông nghiệp bền vững là điều kiện, là phương tiện để nền kinh tế đạt được sự phát triển bền vững; Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật sản xuất thâm canh, ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học - công nghệ, trong đó nông nghiệp công nghệ cao ngày càng khẳng định vai trò động lực thúc đẩy quá trính phát triển nông nghiệp cả về lượng lẫn về chất. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội.
Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là: Luan van 15 a. SXNN phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt, tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp. Mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết, khí hậu rất khác nhau thì các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.