Chương 1: C phát triển HTX Chương 2: Chương 3: Đề xuất c 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề phát triển HTX nói chung, HTXNN nói riêng là chủ trƣơng nhất quán, xuyên suốt của Đảng CSVN và cũng là chủ đề đƣợc các nhà lý luận, các nhà khoa học, các nhà kinh tế học, các nhà làm chính sách và các cơ quan, tổ chức quan tâm nghiên cứu. Một trong những Nghị quyết quan trọng đầu tiên của Đảng CSVN về HTX là Nghị quyết của BCH Trung ƣơng Đảng CSVN khoá II, năm 1959 [11] đã khẳng định, hợp tác hoá nông nghiệp trên nguyên tắc “tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ” là khâu chính trong toàn bộ dây chuyền cải tạo XHCN ở miền Bắc. Trải qua các thời kỳ, từ quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa bao cấp cho đến cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị trƣờng định hƣớng XHCN hiện nay, Đảng CSVN tiếp tục có nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về phát triển HTX.
Trong đó, Chỉ thị số 68-CT/TW của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng CSVN khóa VII, năm 1996 [12] tiếp tục nhận thức rằng “kinh tế hợp tác là yêu cầu và xu thế tất yếu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hƣớng XHCN” và “kinh tế HTX là một bộ phận quan trọng, cùng với kinh tế nhà nƣớc dần trở thành nền tảng của nền kinh tế, đó cũng là nền tảng chính trị - xã hội của đất nƣớc”; Nghị quyết hội nghị Trung ƣơng lần thứ 5, BCHTW Đảng CSVN khóa IX, Luan van 5 năm 2002 [13] tiếp tục chỉ ra những định hƣớng, yêu cầu phải xác lập môi trƣờng thể chế, tâm lý xã hội; sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách; nâng cao vai trò quản lý nhà nƣớc và tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng để phát triển kinh tế tập thể; văn kiện Đại hội XI, nhiệm kỳ 2011-2015 của Đảng CSVN [14] tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là HTX”, “hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc ra đời, phát triển các HTX, các tổ hợp tác kiểu mới và các mô hình kinh tế tập thể khác theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, có chức năng kinh tế và xã hội”. Gần đây nhất là Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/02/2013 [15], đƣợc Bộ Chính trị, khóa XI - Đảng CSVN ban hành để lãnh đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trƣơng của Đảng CSVN, Quốc hội đã ban hành Luật HTX năm 1996 - Văn bản Luật đầu tiên của Việt Nam về HTX và sau đó đƣợc sửa đổi, thay thế bằng các Luật HTX năm 2003, Luật HTX năm 2012 [23] để điều chỉnh các vấn đề về thành lập, tổ chức và hoạt động của HTX, liên hiệp HTX trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành và thực thi hàng loạt các chính sách đối với HTX nhƣ: Chính sách cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực; chính sách đất đai; chính sách tài chính, tín dụng; chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ; chính sách hỗ trợ tiếp thị và mở rộng thị trƣờng; chính sách đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng.
Đây là những hành lang pháp lý và những cơ chế, chính sách ƣu đãi, hỗ trợ rất quan trọng để khuyến khích hình thành, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX. Ngoài các văn kiện của Đảng CSVN và nhà nƣớc, có rất nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, bài viết. về vấn đề phát triển kinh tế hợp tác và HTX đã đƣợc các nhà lý luận, các nhà khoa học, các nhà kinh tế học, các nhà Luan van 6 làm chính sách và các cơ quan, tổ chức công bố. Theo tiến trình thời gian, trong hơn 10 năm trở lại đây có thể nêu ra một số công bố nhƣ: - Nhóm tác giả PGS.
Phạm Thị Cần, PGS. Nguyễn Văn Kỷ, TS. Vũ Văn Phúc (2003) [5] đã hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác, HTX ở Việt Nam, từ đó nêu ra sự cần thiết phải lựa chọn các mô hình kinh tế hợp tác, HTX phù hợp với môi trƣờng, điều kiện đặc thù của từng địa phƣơng, bao gồm cả các yếu tố trình độ dân trí, văn hóa, truyền thống, tâm lý cộng đồng. Nhóm tác giả cũng cho rằng, các giải pháp phát triển kinh tế hợp tác trong nền kinh tế thị trƣờng không thể tách rời các giải pháp phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, bao gồm cả biện pháp phát triển kinh tế nông hộ và trang trại.
- Nhóm tác giả Naoto Imagawa, Chu Thị Hảo (2003) [22], từ những kết quả nghiên cứu về lịch sử phát triển tƣ tƣởng HTX, quá trình phát triển HTX trên thế giới và ở Việt Nam, đã cho rằng: Để xây dựng HTXNN đứng vững và phát triển ổn định trong cơ chế thị trƣờng, cần hội tụ các điều kiện: Nông dân phải có nhu cầu hợp tác; có đội ngũ cán bộ quản lý HTX, đặc biệt là Chủ nhiệm có năng lực, trình độ chuyên môn và tâm huyết; có sự lãnh đạo của đảng và sự hỗ trợ của nhà nƣớc. Hồ Văn Vĩnh (2005) [50], khi bàn về phát triển HTXNN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã cho rằng: Để HTXNN phát triển có hiệu quả, gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, cần tiếp tục đổi mới nhận thức về HTXNN, nhất là nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò và tác dụng của HTXNN trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tổ chức và quản lý tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và có sự hỗ trợ của nhà nƣớc; phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hóa nhằm tạo nhu cầu và động lực tham gia HTXNN; coi trọng công tác cán bộ cho HTXNN, trƣớc hết là chủ nhiệm HTX có vai trò quyết định đối với sự Luan van 7 thành bại của HTXNN; mở rộng liên kết hợp tác giữa HTXNN với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. - Tác giả Nguyễn Công Bình (2007) [3], trong Luận văn Thạc sĩ kinh tế của mình đã sử dụng các phƣơng pháp nhƣ mô tả, nhân quả, thống kê, chuyên gia và điều tra khảo sát thực tế để nghiên cứu, phân tích các điều kiện tự nhiên, KT-XH, đánh giá thực trạng hoạt động và phát triển các HTXNN ở tỉnh Tiền Giang, giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2007. Qua đó, đề xuất 4 nhóm giải pháp để nâng cao hoạt động của các HTXNN ở Tiền Giang đến năm 2015 gồm: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khuyến khích phát triển HTX; Thúc đẩy kinh tế hộ, tạo điều kiện thúc đẩy hình thành các hình thức hợp tác từ thấp đến cao; Phát huy nội lực, tạo sức mạnh tập thể từ nội tại các loại hình HTX; Nâng cao vai trò của Nhà nƣớc đối với HTX.
Đào Thế Tuấn (2007) [38], khi bàn về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong thời kỳ mới, đã cho rằng: HTX vẫn chƣa phát triển mạnh một cách thực chất ở nông thôn vì nông dân chƣa thiết tha với HTX, nhận thức chƣa rõ sự khác nhau giữa HTX với công ty cổ phần. Muốn HTX phát triển mạnh hơn thì thậm chí các HTX cùng làm một việc sẽ phải liên kết lại theo ngành dọc để mở rộng quy mô, từ đó có sức làm các việc lớn hơn. Ông cũng cho rằng, phải phát triển nhiều hình thức hợp tác khác nhau, từ thấp đến cao để nhân dân các vùng khác nhau có thể lựa chọn hình thức mà họ coi là thích hợp nhất; nên phát triển rộng khắp các tổ hợp tác giản đơn để giúp đỡ, tƣơng trợ nhau phát triển sản xuất, tiến tới hình thành các HTX khi đã hội đủ các điều kiện, đặc biệt là khi nông dân đã thấy đƣợc lợi ích của việc hợp tác và tự nguyện tham gia. - Tác giả Ngô Thị Cẩm Linh (2008) [21], trong Luận văn Thạc sĩ kinh tế của mình đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác và HTX; đánh giá hoạt động SXKD của các HTXNN ở tỉnh Vĩnh Phúc trƣớc và sau khi có Luan van 8 Luật HTX năm 2003; phân tích các nhân tố ảnh hƣởng tới quá trình phát triển của HTXNN ở tỉnh Vĩnh Phúc.
Qua nghiên cứu, tác giả đề xuất định hƣớng phát triển và 5 nhóm giải pháp nhằm xây dựng mô hình các HTXNN phù hợp với đặc điểm, điều kiện và quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2015 của tỉnh Vĩnh Phúc. Trong đó, ngoài các nhóm giải pháp về thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, kiện toàn bộ máy và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc, tác giả còn đề cập đến các nhóm giải pháp về đổi mới tƣ duy, nhận thức trong phát triển HTXNN; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác cán bộ HTXNN và lựa chọn mô hình HTXNN phù hợp với đặc điểm của từng huyện. - Tác giả Diệp Kỉnh Tần (2008) [27], khi bàn về một số định hƣớng và giải pháp phát triển HTXNN ở Việt Nam, đã cho rằng: Phải tùy theo điều kiện cụ thể ở mỗi địa phƣơng để xây dựng mô hình HTXNN phù hợp. Để phát triển HTXNN, các địa phƣơng cần tập trung tháo gỡ khó khăn, vƣớng mắc của các HTX bằng các giải pháp cụ thể nhƣ đƣa nội dung hỗ trợ phát triển HTXNN vào thực hiện trong khung khổ chƣơng trình hỗ trợ có mục tiêu về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp; tháo gỡ các khó khăn về giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX; hƣớng dẫn cụ thể thực hiện chính sách ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dịch vụ phục vụ trực tiếp của các HTXNN đối với xã viên; khuyến khích và hỗ trợ HTXNN phát triển dịch vụ tín dụng nội bộ; mở rộng hỗ trợ thí điểm đổi mới tổ chức quản lý HTXNN để tổng kết, nhân ra diện rộng.
Võ Tòng Xuân (2008) [52], khi bàn về nông nghiệp và nông dân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, đã cho rằng: Việt Nam gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới thì nông nghiệp, nông dân có nhiều cơ hội để phát triển nhƣng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức, ví nhƣ “từ giã cái ao nhỏ ở làng để đi ra biển cả, có nhiều tôm cá để đánh bắt, cũng có nhiều sóng to, cá dữ và đôi khi còn gặp hải tặc”.