phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp. Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Đăk Glong. Một số giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Đăk Glong.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Nông nghiệp là ngành sản xuất có lịch sử lâu đời, gắn liền với sự phát triển của loài ngƣời và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Đối Luan van 4 với Việt Nam hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đƣợc Đảng và Nhà nƣớc hết sức trú trọng thể hiện qua quan điểm “Phát triển nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ chiến lƣợc”. Bởi vậy, từ lâu vấn đề phát triển nông nghiệp luôn đƣợc các nhà kho học trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu.
Theo Arthur Lewis (1954) ông đƣa ra mô hình hai khu vực và lập luận rằng muốn phát triển nông nghiệp thì phải giải quyết lao động dƣ thừa trong nông nghiệp bằng cách là dựa vào phát triển công nghiệp để dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động nông nghiệp [5, tr14-21]. Nghiên cứu của PGS.Bùi Quang Bình (2012) [1] đã chỉ ra sự phát triển nông nghiệp thể hiện qua các nội dung, đó là: Gia tăng quy mô sản lƣợng nông nghiệp; mức độ huy động vốn và hiệu quả sử dụng các nguồn lực nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; trình độ tổ chức sản xuất nông nghiệp; tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp. Trong nông nghiệp, đất đai là một nhân tố sản xuất chiếm giữ vai trò quyết định. Gắn liền với vai trò chủ đạo của đất đai là ảnh hƣởng của thời tiết.
Sự khác nhau về chất lƣợng đất trồng, khí hậu và nguồn nƣớc sẵn có dẫn đến việc sản xuất lƣơng thực khác nhau và các biện pháp để nâng cao năng suất của một vụ khác nhau không chỉ ở các nƣớc mà ngay giữa các tỉnh, huyện của một nƣớc. Thạc sĩ Đỗ Thị Thu [2] trong luận văn tác giả đã phân tích cơ cấu đầu tƣ của huyện, trong đó đã chỉ ra các nguồn đầu tƣ đƣợc hình thành nhƣ đâu tƣ chính nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc, vốn từ các ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng chính sách và các ngân hàng thƣơng mại khác, nguồn vốn từ các chủ thể sản xuất (nông hộ, tƣ nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã). Các chủ thể đƣợc tiếp cận sử dụng nguồn vốn đầu tƣ. Chính sách đầu tƣ đã đƣợc áp dụng, Luan van 5 triển khai cũng nhƣ hiệu quả của các chính sách đầu tƣ và nguồn vốn đƣợc sử dụng vào các hình thức sản xuất nông nghiệp nhƣ trạng trại.Bùi Bá Bổng (2004) [3] trong bài viết “Một số vấn đề trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay và những năm tới” đã đƣa ra một số giải pháp để phát triển nông nghiệp, nông thôn là: Tiếp tục thực hiện chủ trƣơng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hƣớng phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng gắn với nhu cầu thị trƣờng; tăng cƣờng tiềm lực khoa học - công nghệ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; đẩy mạnh thực hiện Chƣơng trình phát triển nông thôn; xây dựng và thực hiện chiến lƣợc phát triển thị trƣờng, hoàn thiện hệ thống tổ chức kinh doanh tiêu thụ nông lâm sản hàng hóa trong nƣớc và xuất khẩu; hoàn thiện và đổi mới các chính sách, tiếp tục tạo động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông nghiệp phát triển; đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp - nông thôn; tăng cƣờng hợp tác quốc tế và hội nhập để tăng thêm nguồn lực cho phát triển của ngành trong những năm trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài.Đinh Văn Thông (2011) [4] trong bài viết “Nông nghiệp Việt Nam qua 25 năm đổi mới kinh tế (1986 - 2010)” chỉ rõ những xu hƣớng có tính chất quy luật trong quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế nông nghiệp: Đó là xu hƣớng đầu tƣ, thâm canh phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa; xu hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xu hƣớng phát triển nền nông nghiệp theo hƣớng bền vững.
Bài viết “Để ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển nhƣ kỳ vọng” trong tạp chí kinh tế và dự báo số 4/2013 của Th.S Nguyễn Thị Xuân thì để nâng “chất” cho ngành nông nghiệp Việt Nam thì cần phải tăng cƣờng đầu tƣ phát triển nghiên cứu có chọn lọc, chuyển giao công nghệ, có chính sách bảo hợp lý đối với nông sản, thực hiện có hiệu quả chính sách dồn điền đổi thửa, Luan van 6 điều chỉnh nâng cao chất lƣợng nông nghiệp và xây dựng các đô thị ngay bên trong nông thôn [5]. Trên báo điện tử của Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn (2013) trong bài viết “Một số vấn đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp” đã phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp trong 25 năm đổi mới”. Nêu ra một số điểm trong cơ cấu ngành nông nghiệp bao gồm: Điều chỉnh và nâng cao giá trị gia tăng của các sản nghiệp nông nghiệp hiện có, đồng thời tìm kiếm những sản nghiệp nông nghiệp mới phù hợp, đƣợc ứng dụng công nghệ cao với giá trị gia tăng lớn, có thị trƣờng tiêu thụ ổn định [6]. Trên trang web của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ƣơng (2014) trong bài viết “Cần đột phá phát triển nông nghiệp”, TS.Võ Trí Thành cho rằng, đột phá ở thể chế trong phát triển nông nghiệp có nhiều nội dung.
Trong đó cần phải có đột phá về thể chế trong tổ chức mô hình, phƣơng thức sản xuất quy mô lớn ở những vùng có điều kiện, bên cạnh vai trò của hộ gia đình. Đột phá này sẽ khắc phục tình trạng manh mún trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục các bất cập mà sản xuất nông nghiệp quy mô hộ gia đình không giải quyết đƣợc, đồng thời hƣớng đến một nền sản xuất hàng hóa nông nghiệp chuyên nghiệp, bền vững [7]. Báo điện tử, tại, Phó Thủ tƣớng Vũ Đức Đam khẳng định ứng dụng các tiến bộ KHCN trong nông nghiệp hết sức đa dạng, từ những vấn đề rất lớn, rất hiện đại nhƣ biến đổi khí hậu, ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám. đến chuyện cụ thể nhƣ nuôi con gà, con vịt, trồng cây lúa.
Song dù lớn hay nhỏ thì doanh nghiệp, ngƣời nông dân, nhà khoa học đều nhận thấy vai trò ngày càng quan trọng của ứng dụng KHCN để xây dựng một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại [8]. Phát biểu tại Hội nghị Bộ trƣởng đã chia sẻ một số kinh nghiệm của nông nghiệp Việt Nam trong ứng phó với BĐKH, bao gồm i) Sản xuất lúa: Luan van 7 Việt Nam đã ứng dụng, khuyến cáo ngƣời dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật thông qua mô hình thâm canh lúa cải tiến (SRI). Mô hình này có thể giảm tới 30% lƣợng phân bón, thuốc trừ sâu nhƣng năng suất tăng từ 10-20% và giảm khí thải nhà kính tới 30%; ii) Sản xuất cà phê: Cùng với tập đoàn Nestle và đối tác khác, những tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng, chăm sóc cà phê đã đƣợc khuyến cáo cho ngƣời dân. Mô hình này đã sử dụng tiết kiệm nƣớc tới 30% so với phƣơng thức canh tác truyền thống, trong khi năng suất tăng 10%, thu nhập của ngƣời dân tăng 14% và giảm khí thải nhà kính tới trên 50%; iii) Lĩnh vực chăn nuôi: Chính phủ đã hỗ trợ ngƣời dân toàn quốc xây dựng hầm Biogas, do đó đã giảm đáng kể phát thải khí nhà kính; iv) Lâm nghiệp: Với hỗ trợ quốc tế Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong việc trồng và bảo vệ rừng.
Độ che phủ rừng đã tăng từ dƣới 30% vào đầu những năm 1990 lên tới 40,7% vào năm 2015.Để nhân rộng đƣợc các mô hình thành công nói trên, Bộ trƣởng đã nhấn mạnh đến việc cần phải có sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ và của các bên liên quan (ngƣời dân, doanh nghiệp, nhà khoa học…); có chính sách khuyến khích hỗ trợ ngƣời dân và các doanh nghiệp tham gia tích cực vào tiến trình này; cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho ngƣời nghèo; và cần chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và tăng cƣờng hợp tác quốc tế [9]. Bài viết trên báo Công thƣơng về “Giải pháp phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Tuyên Quang”, Để hoàn thành các chỉ tiêu về phát triển công nghiệp nông thôn, Tuyên Quang chú trọng những ngành nghề, sản phẩm, danh mục đầu tƣ có lợi thế: vùng nguyên liệu, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, phát triển thủy điện. Đặc biệt, tỉnh rất quan tâm đầu tƣ lĩnh vực chế biến nông, lâm sản nhằm giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp. Một trong những giải pháp đẩy mạnh phát triển công nghiệp của Tuyên Quang là tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông, lâm Luan van 8 sản gắn với vùng nguyên liệu tập trung.
Gắn kết chặt chẽ, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà máy chế biến nông, lâm sản với những hộ gia đình, đơn vị trồng nguyên liệu, phát huy công suất của các nhà máy nhất là các nhà máy chế biến lâm sản đầu tƣ công nghệ hiện đại, quy mô sản xuất lớn. Tích cực đầu tƣ đổi mới công nghệ sản xuất theo hƣớng hiện đại tiên tiến và sử dụng nguyên liệu chế biến sạch nhằm nâng sức cạnh tranh của sản phẩm chè, nhất là chè đặc sản, tăng khả năng tiêu thụ trên thị trƣờng nội địa và xuất khẩu [10]. Bài viết trên Việt Báo, theo Bộ trƣởng Bộ Công thƣơng Vũ Huy Hoàng, một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển thị trƣờng nông sản trong thời gian tới là tiến hành nâng cao chất lƣợng và hiệu quả hoạt động của Chƣơng trình xúc tiến thƣơng mại quốc gia, gồm 3 bộ phận: xúc tiến thƣơng mại định hƣớng xuất khẩu, xúc tiến thƣơng mại nội địa và xúc tiến thƣơng mại biên giới. Đối với xúc tiến thƣơng mại định hƣớng xuất khẩu, phải tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến thƣơng mại và phát triển thị trƣờng nƣớc ngoài; tập trung xúc tiến thƣơng mại tại các thị trƣờng trọng điểm có kim ngạch nhập khẩu lớn nhƣ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, một số nƣớc EU; tập trung nguồn vốn xúc tiến thƣơng mại đối với những mặt hàng có sự tăng trƣởng, có sự đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu [11].