mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện EaH’leo, tỉnh Đăk Lăk thời gian qua - Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nông nghiệp huyện EaH’leo, tỉnh Đăk Lăk thời gian tới. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu ngoài nước Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không chỉ với các nƣớc đang phát triển mà cả với các nƣớc phát triển. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế mà ngày nay chúng ta vẫn có thể vận dụng vào thực tiễn PTNN Việt Nam. Từ thế kỷ 18 David Ricacdo đã cho rằng do đất đai có giới hạn trong khi dân số nông thôn tăng nhanh do vậy PTNN dựa vào khai thác loại TLSX chủ yếu này sẽ gặp phải khó khăn nhƣ chi phí tăng cao và năng suất giảm; và do vậy muốn PTNN thì phải sử dụng tiệt kiệm và có hiệu quả đất đai.
Nhƣ vậy, theo ông đất đai là TLSX và là nguồn lực quan trọng nhất cho PTNN và con đƣờng phát triển phải dựa vào nâng cao năng suất. Phát triển nông nghiệp theo Torado (1990) là quá trình phát triển chuyên môn hóa sản xuất và thực hiện thay đổi cải tiến công cụ sản xuất. Nghĩa là PTNN phải thay đổi cả tổ chức sản xuất và kỹ thuật sản xuất. Theo quan điểm của Roy Hadod Evsey Domar (1940) muốn PTNN thì phải đầu tƣ vốn cho SXNN nhƣng cũng cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Hạn chế của Roy Hadod Evsey Domar là không chỉ ra hạn chế của việc đầu tƣ chỉ tạo ra tăng trƣởng trong ngắn hạn. Do vậy Robert Solow (1956) đã phát triển kết quả của Roy Hadod Evsey Domar và lập luận rằng việc tăng khối lƣợng vốn sản xuất qua đầu tƣ chỉ ảnh hƣởng tới tăng trƣởng kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng trong ngắn hạn nhƣng không ảnh hƣởng trong dài hạn; một nền kinh tế có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sản lƣợng cao hơn nhƣng không ảnh hƣởng tới tăng trƣởng trong dài hạn. Lewis (1954) lại cho rằng muốn PTNN thì phải dựa vào sự phát triển công nghiệp để thực hiện chuyển dịch CCKT qua thu hút lao động dƣ thừa trong nông nghiệp góp phần nâng cao NSLĐ nông nghiệp. Luan van 5 Nghiên cứu trong nước Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân, là ngành duy nhất sản xuất đƣợc lƣơng thực, thực phẩm.
Hoạt động nông nghiệp có từ lâu đời, nên còn đƣợc coi là lĩnh vực sản xuất truyền thống; hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Ở Việt Nam, trong quá trình phát triển kinh tế, vấn đề PTNN luôn là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà lý luận, các nhà kinh tế học, các nhà làm chính sách và các tổ chức phát triển. Từ khi đổi mới đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu qua việc gia nhập vào Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), đã có nhiều công trình nghiên cứu và những định hƣớng về PTNN. - Nghiên cứu do Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chủ trì và đƣợc Cơ quan Phát triển của Liên hiệp Quốc (UNDP) tài trợ (2001) “Việt Nam hướng tới 2010” đƣợc xem là nghiên cứu đầu tiên sau đổi mới có bàn đến PTNN và hội nhập kinh tế.
Nghiên cứu này cho rằng “hội nhập và tăng trưởng kinh tế sẽ mang lại thay đổi và cả rủi ro. Nhưng rủi ro lớn nhất chính là không theo đuổi tự do hóa sâu sắc hơn, bởi vì tăng trưởng chậm sẽ làm tổn hại đến tất cả các mục tiêu phát triển của Việt Nam” [1] Việt Nam hãy tận dụng tối đa hội nhập kinh tế để tăng trƣởng kinh tế nhanh, trong đó có nông nghiệp là điều kiện để giảm nhanh nghèo đói, phát triển nông thôn và gia tăng hàng nông sản xuất khẩu. - Trong bài viết“Một số vấn đề trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay và những năm tới” của PGS.TS Bùi Bá Bổng (2004) đề ra các giải pháp để phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay và trong những năm đến là: Tiếp tục thực hiện chủ trƣơng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hƣớng phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng gắn với nhu cầu thị trƣờng; tăng cƣờng tiềm lực khoa học và công nghệ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp - nông thôn; đẩy mạnh việc thực hiện Chƣơng trình phát triển nông thôn; xây dựng và thực hiện chiến lƣợc phát triển thị trƣờng, hoàn thiện hệ thống tổ chức kinh doanh tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá trong nƣớc và xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; tăng cƣờng hợp tác quốc tế và hội nhập để tăng thêm nguồn lực cho phát triển của ngành trong những năm trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài; hoàn thiện và đổi mới các chính sách, tiếp tục tạo động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá nông nghiệp phát triển [21]. - Nghiên cứu của TS.
Đinh Phi Hổ (2006) cho rằng, nông nghiệp có đặc điểm: Nông nghiệp có đối tƣợng sản xuất là những cây trồng và vật nuôi; ruộng đất sử dụng trong nông nghiệp đƣợc coi là tƣ liệu sản xuất đặc biệt; hoạt động của lao động và tƣ liệu sản xuất trong nông nghiệp có tính thời vụ; nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn nhƣng lại mang tính khu vực [7]. - Nghiên cứu về nông nghiệp tại Quảng Nam, luận án tiến sĩ “Về cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng” (1995) của Vũ Ngọc Hoàng cho rằng, nội dung chuyển dịch cơ cấu SXNN có tính chất quyết định phƣơng hƣớng, nhịp độ PTNN, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân; chuyển đổi cơ cấu SXNN hợp lý phải gắn với phát triển công nghiệp chế biến và bảo vệ môi trƣờng, sinh thái [8]. Luan van 7 - Nghiên cứu nội dung của PTNN của Đặng Kim Sơn (2008) đã khẳng định là sự gia tăng sản lƣợng lƣơng thực thực phẩm thông qua chỉ tiêu giá trị SXNN. Không dừng ở đó các nghiên cứu còn đề cập tới nội dung sự phát triển của các ngành trong nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu SXNN [15].
- Nghiên cứu của PGS. Phan Thúc Huân (2007) cho ra rằng SXNN có các đặc điểm: Ruộng đất là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tƣợng lao động vừa là tƣ liệu lao động; đối tƣợng của SXNN là những cơ thể sống có nhu cầu khác nhau về môi trƣờng, điều kiện ngoại cảnh; SXNN có tính thời vụ; SXNN trên địa bàn đƣợc phân bố trên phạm vi và không gian rộng lớn; phần lớn nông trại là những đơn vị kinh doanh nhỏ; cung và cầu có tính không co giãn; SXNN phải đƣơng đầu với nhiều rũi ro, tài trợ cho SXNN là công việc phức tạp và nhiều rủi ro; SXNN không đòi hỏi trình độ văn hoá cao [9]. - Trong bài viết “Nông dân và nông nghiệp Việt Nam nhìn từ sản xuất thị trường” của TS. Nguyễn Trần Trọng (2012) bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020” đề cập đến phƣơng pháp tiếp cận phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam dƣới góc độ thị trƣờng; góc độ công nghiệp; góc độ môi sinh và những định hƣớng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020 gồm: Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hƣớng kinh tế thị trƣờng, từng bƣớc chuyển các đơn vị, ngành, vùng nông nghiệp còn căn bản tự cấp, tự túc ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc ít ngƣời lên sản xuất hàng hoá, xây dựng các vùng sản xuất Luan van 8 nông sản xuất khẩu tập trung; hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hƣớng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa trong từng ngành, từng vùng sản xuất nông nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị nông sản; xây dựng các loại hình thức kinh tế phù hợp trong nông nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, xây dựng các vùng nguyên liệu vững chắc, nâng cao chất lƣợng sản phẩm chế biến; thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp; bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong nông nghiệp theo hƣớng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch [19].
Các tác phẩm, bài viết và tác giả nêu trên đã đề cập một cách khái quát, khá toàn diện hoặc đi vào phân tích từng mặt của phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra, có nhiều bài viết của các tác giả khác, với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã nêu nhiều vấn đề về lý luận và những nội dung cơ bản của phát triển nông nghiệp qua các giai đoạn, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn của phát triển nông nghiệp tại Việt Nam nói chung và một số địa phƣơng nói riêng. Tuy nhiên, trên góc độ tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và nội dung của phát triển nông nghiệp huyện EaH’leo, tỉnh Đăk Lăk, hiện vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu hoàn chỉnh về vấn đề này. Vì vậy, tác giả đã kế thừa và chọn lọc những công trình đã nghiên cứu ở trên và các nghiên cứu khác để thực hiện đề tài này.
Luan van 9 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm a. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế, cung cấp những sản phẩm thiết yếu nhƣ lƣơng thực, thực phẩm cho con ngƣời tồn tại và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp.
Ở những nƣớc đang trong giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa nhƣ Việt Nam, nông nghiệp còn là nguồn thu nhập về ngoại tệ nhờ xuất khẩu nông sản; cung cấp các yếu tố sản xuất lao động và vốn cho các khu vực kinh tế khác; ngoài ra còn là thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác; và có tác dụng gìn giữ và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Theo theo nghĩa rộng, ngành nông nghiệp gồm ba lĩnh vực là nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp và ngƣ nghiệp [16, tr.