CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Vào những năm cuối của thế kỷ XX, do sự bùng nổ về dân số, sự phát triển vượt bậc về kinh tế, nên con người khai thác và sử dụng quá mức làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, huỷ hoại môi trường đến mức báo động. Trước thực trạng đó, phạm trù phát triển bền vững được ra đời. Phạm trù phát triển bền vững xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” được công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) với nội dung là: “ Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Bắt đầu từ đó, phát triển bền vững của một quốc gia nói chung, của từng ngành, từng lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực có liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên như: đất đai, nguồn nước, rừng và biển và liên quan đến cuộc sống của con người nói riêng, đã được nhiều tổ chức, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các nhà khoa học.
quan tâm nghiên cứu và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống. Dưới đây là một số nghiên cứu đáng quan tâm của thế giới và trong nước có liên quan đến vấn đề này: 1. Những nghiên cứu của thế giới 1-Robert Goodland, George Ledec đã có công trình nghiên cứu: Neoclasical economics and Principles of sustainable Development, Elsevier B.V, USA-1987, nghiên cứu về chuyển đổi các mô hình kinh tế-xã hội từ chủ yếu dựa vào khai thác, sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên sang mô hình kinh tế xã hội phát triển bền vững, vừa bảo đảm đáp ứng được sự phát triển hiện tại của xã hội loài người, vừa tạo ra được cơ sở phát triển cho các thế hệ tương lai. [40] 11 2- Sudhir Anand và Amartya Sen, trong công trình nghiên cứu: Phát triển bền vững: Khái niệm và các ưu tiên, do UNDP công bố tại New York, January 1996 cũng đã khẳng định rằng: Phát triển bền vững cần được hiểu một cách toàn diện, đầy đủ trên cả ba khía cạnh là, tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường sống.
Để bảo đảm phát triển bền vững các NCS cũng đã đưa ra nhiều điều cần lưu ý, trong đó đáng quan tâm là: Sử dụng hợp lý đất đai, bảo về rừng và nguồn tài nguyên nước, tiết kiệm năng lượng và giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội. [41] 3- Dakley, Peter et al trong nghiên cứu: Projects with People: The Practice of Participation in Rural Development, Geneva: International Labour Offic, đã nêu rõ: muốn phát triển kinh tế xã hội nông thôn nhanh, theo hướng hiện đại, con đường đúng nhất là phải phát triển theo hướng bền vững, tức là phải kết hợp hài hoà trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên với nguồn lực con người. Trong đó, nghiên cứu cho rằng việc để người nông dân tham gia vào thực thi, cũng như kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án Phát triển nông thôn là yếu tố cực kỳ quan trọng cho sự phát triển bền vững của khu vực này. [42] 4- Frank Ellis (1995) đã có công trình nghiên cứu: Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển, nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành, đã phân tích khá toàn diện những mặt tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong chính sách phát triển nông nghiệp của các nước đáng phát triển, đặc biệt là những mặt còn hạn chế.
Do muốn phát triển mạnh, muốn nhanh chóng nâng cao mức sống của người dân, nhất là về tiêu thụ lương thực và thực phẩm, các nước này thường vấp phải sai lầm là khai thác một cách quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng quá mức các loại phân hoá học, các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh và dịch bệnh, các loại hoá chất kích thích tăng trưởng cây trồng, các loại tăng trọng cho gia súc gia cần, cũng như bảo quản các loại nông sản đã sản xuất ra. Hậu quả là môi trường sinh thái và môi trường sống của con người bị huỷ hoại. Xuất phát từ đó, Frank Ellis khuyên các nước đang phát triển nên nhanh chóng điều chỉnh lại 12 chính sách phát triển nông nghiệp, trong đó quan trọng là nên phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. [43] 5-World Bank (1998) trong nghiên cứu: Agriculture and Environment, Perspectives on Sustainable Rural Development, Ernst Lutz cũng đã khuyến cáo với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển rằng: Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn, phải đặc biệt coi trọng việc gắn kết hài hoà giữa phát triển sản xuất với gìn giữ và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường rừng.
Các quốc gia chỉ có thể đạt được sự thành công trong phát triển kinh tế-xã hội ở khu vực nông thôn khi và chỉ khi đi theo hướng phát triển bền vững. [44] 6-World Bank (2003): Phát triển bền vững trong một thế giới năng động, thay đổi thể chế, tăng trưởng và chất lượng cuộc sống. Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, trong thời đại ngày nay, thời đại khoa học và công nghệ phát triển hết sức nhanh chóng và toàn cầu hoá là một xu thế phát triển khách quan, xu thế tất yếu, các quốc gia muốn phát triển nhanh, muốn không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, con đường duy nhất là phải phát triển bền vững. Các nghiên cứu trong nước Quan điểm phát triển bền vững kinh tế xã hội nói chung, phát triển bền vững từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể nói riêng đã đi vào Việt Nam khá sớm và đã được Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam cũng như các ngành, các địa phương ở Việt Nam tiếp nhận, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khá nhanh.
Đã có nhiều hội nghị, hội thảo, nhiều chủ trương, chính sách và nhiều công trình nghiên cứu về phát triển bền vững đất nước nói chung, phát triển bền vững nông nghiệp nói riêng được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua. Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu: 1- Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam: "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”. Đây có thể coi là tuyên ngôn của Việt Nam về phát triển bền vững đất nước giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2020. Trên cơ sở thấy rõ sự cần thiết phải phát triển đất nước theo hướng bền vững, Chiến lược này đã đưa ra những định 13 hướng cơ bản về sử dụng các nguồn lực (các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, nguồn lực khoa học-công nghệ.) để phát triển nhanh và có hiệu quả nền kinh tế, nâng cao thu nhập cho người lao động, thực hiện ngày càng tốt hơn sự công bằng và dân chủ xã hội, gìn giữ và bảo vệ tốt môi trường sinh thái.
[8] 2- Hội nghị Quốc gia về phát triển bền vững tại Hà Nội tháng 12/2014 về “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” đã chỉ rõ sự cần thiết phải phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam bền vững, theo hướng: Phải bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất và nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, phải đẩy mạnh việc trồng rừng và bảo vệ rừng, phải khai thác hợp lý các nguồn lợi thuỷ hải sản, phải bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học và phải kiểm soát chặt chẽ việt sử dụng các loại hoá chất trong sản xuất nông nghiệp, cũng như phải quan tâm đúng mức đến xây dựng và hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn, đến việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội đối với mọi tầng lớp dân cư trên địa bàn. Công trình này đã đưa ra các quan niệm về phát triển bền vững, đặc biệt đã đi sâu phân tích những kết quả bước đầu, cũng như những mặt còn hạn chế của Việt Nam trong phát triển bền vững trên cả ba phương diện: Kinh tế, xã hội và môi trường. Trên cơ sở đó công trình nghiên cứu cũng đã khuyến nghị các chính sách và giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm thực hiện tốt hơn vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. [22] 4-TS Đinh Văn Ân: “Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam”.
NXB Thống kê, HN 2005. Công trình nghiên cứu này đã hệ thống hoá và đưa ra quan niệm về phát triển bền vững kinh tế-xã hội của một quốc gia. Trên cơ sở đó, công trình đã đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam những năm đã qua, chỉ ra những gì là phù hợp với phát triển bền vững, cái gì là chưa phù hợp, thậm chí đi ngược lại với phát triển bền vững, và kiến nghị các giải pháp nhằm phát huy những mặt tốt và khắc phục những mặt còn hạn chế để giúp kinh tế-xã hội Việt Nam phát 14 triển ngày càng bền vững hơn.TS Bùi Tất Thắng: “Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam (thời kỳ 2011-2020)”. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 2010.
Công trình nghiên cứu này đã tập trung phân tích các lý thuyết về phát triển nhanh và bền vững của các học giả trên thế giới. Trên cơ sở đó đã đưa ra khái niệm về phát triển nhanh và bền vững cũng như các tiêu chí đánh giá đối với nó có cơ sở khoa học và phù hợp với Việt Nam. Từ đó công trình đã đi sâu phân tích, đánh giá quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua, chỉ ra những mặt phát triển đúng, phù hợp với xu thế của thời đại, cũng như những mặt còn yếu kém, chưa phù hợp với các tiêu chí bền vững cần quan tâm khắc phục. Công trình nghiên cứu cũng đã đề xuất nhiều cơ chế, chính sách và giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm giúp nền kinh tế Việt Nam có thể phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn từ 2011-2020.
[31] 6- Ngô Thắng Lợi: "Phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đến năm 2020". Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ, Hà Nội 2010.