Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Để phát triển nhân lực đáp ứng yêu phát triển đất nước, nhất là thời kỳ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước trong khu vực và thế giới, nhiều công trình nghiên cứu về nhân lực và phát triển nhân lực đã được tiến hành. Với những công trình nghiên cứu đó đã cho ta hiểu rõ và sâu sắc về khái niệm nhân lực, cụ thể: Khái niệm “nhân lực”, theo Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân: “Nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng của con người – mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động – của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển” [9, tr.
Theo Nguyễn Đức Thành và Nguyễn Ngọc Quân, nhân lực là nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực và trí lực. Nhân lực có thể hiểu là tất cả khả năng thể lực và trí lực của con người tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Tại cuốn Quản lý nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập (năm 2010) tác giả Đổ Văn Phức chủ biên đã nêu: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức. Nhân lực của tổ chức là sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngủ lao động” [6, tr.18] Như vậy, từ những quan điểm trên về nhân lực, chúng ta có thể hiểu khái niệm nhân lực được sử dụng để chỉ những người đang làm việc và những người là học sinh, sinh viên đang được đào tạo tại các cơ sở giáo dục.
Những con người này có những tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách phẩm chất đạo đức đáp ứng cho quá trình lao động theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động của một quốc gia, một địa phương, một tổ chức, đơn vị trong những thời kỳ nhất định. Hay nói cách khác, nhân lực là tổng thể các khả năng của con người được tham gia vào quá trình lao động để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức trong một giai đoạn nhất định. Khả năng của con người được phát triển và huy động tùy thuộc vào bản thân của con 6 người, cùng với nhu cầu của tổ chức. Chất lượng nhân lực Để thực hiện được các mục tiêu nhiệm vụ đề ra của đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức, đòi hỏi phải cần đến một đội ngũ nhân lực nhất định phù hợp với yêu cầu công việc đặt ra.
Sự phù hợp với yêu cầu công việc càng cao của nhân lực thì hiệu quả sử dụng lao động càng lớn. Tức là cần nhân lực với số lượng phù hợp, trình độ tay nghề, trình độ nghiệp vụ đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trong một giai đoạn nào đó theo kế hoạch đã vạch ra. Khi đó, chúng ta có thể nói, nhân lực của chúng ta có chất lượng. Như vậy, chất lượng nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức là mức độ đáp ứng, phù hợp về chất lượng nhân lực theo các loại cơ cấu mà đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức thu hút, huy động được đáp ứng yêu cầu hoạt động của mình.
Nếu mức độ đáp ứng phù hợp về chất lượng nhân lực mà đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức huy động, thu hút sát đúng với yêu cầu chất lượng theo yêu cầu công việc thực tế thì khi đó chúng ta nói, nhân lực của chúng ta có chất lượng cao. Chất lượng nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức phải xem xét, đánh giá từ các khía cạnh sau: Thứ nhất là trình độ của nhân lực, gọi là trí lực: Nhân lực có chất lượng là nhân lực có trình độ văn hóa, chuyên môn kỷ thuật và kỷ năng lao động phù hợp, đáp ứng với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong một giai đoạn nhất định. Trí lực của con người được đánh giá qua các chương trình đào tạo về văn hóa và chuyên môn (Bằng cấp, chứng chỉ) và sự linh hoạt, khéo léo trong việc xử lý công việc được giao thông qua quá trình làm việc. Trí lực được đánh giá theo các tiêu chí cụ thể sau: + Về trình độ văn hoá: Nói lên sự hiểu biết kiến thức phổ thông của một người.
Đây là chỉ số đầu tiên và quan trọng khi đánh giá chất lượng nhân lực và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nó thường được thể hiện qua các quan hệ tỷ lệ: Số lượng và tỷ lệ lao động đã qua các bậc học: Trên đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp, trung học phổ thông, trung học cơ sở, … + Về trình độ chuyên môn, kỹ thuật: là những kiến thức có tính chuyên ngành về quản lý, kinh doanh, kỷ thuật…của công chức, viên chức, người lao động, được thể hiện qua các quan hệ tỷ lệ: Số lượng và tỷ lệ lao động được đào 7 tạo chuyên môn, nghiệp vụ và chưa được đào tạo; số lượng và tỷ lệ lao động qua đào tạo trung học chuyên nghiệp, cao đăng, đại học + Về kỹ năng mềm hay còn gọi là kỷ năng thực hành xã hội là thuật ngữ dùng để chỉ các kỷ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: Kỷ năng giao tiếp, kỷ năng lãnh đạo, làm việc nhóm, kỷ năng quản lý thời gian, sáng tạo và đổi mới… + Về năng lực ngoại ngữ, tin học: Năng lực ngoại ngữ là một trong các tiêu chí quan trọng cần được xem xét khi tuyển dụng, đặc biệt trong các đơn vị sự nghiệp công lập có liên quan đến nước ngoài hoặc các công ty nước ngoài tại Việt Nam. Ngoại ngữ không những phục vụ trong giao tiếp mà còn cần thiết để đáp ứng sự đòi hỏi khi sử dụng các trang thiết bị, máy móc nhập khẩu được sử dụng trong quá trình lao động. Hiện nay, trong sự phát triển khoa học công nghệ, đòi hỏi công chức, viên chức, người lao động cần có kiến thức tin học để áp dụng tin học trong quản lý, sản xuất và cuộc sống hàng ngày. Ngoại ngữ và tin học là rất quan trọng, hổ trợ công chức, viên chức, người lao động thực hiện tốt công việc của mình.
Thứ hai là thể lực của nhân lực là sức khỏe của con người và sự thoải mái về tinh thần. Sức khỏe của con người là yếu tố vô cùng quan trọng, nếu không có sức khỏe thì chúng ta không thể làm được việc gì; sức khỏe của con người là nhu cầu không giới hạn, nó được thể hiện bằng sức mạnh, sự dẻo dai, sức chịu đựng của con người trong quá trình sinh sống và làm việc. Tinh thần của con người được thể hiện qua tình cảm, cảm xúc, biểu cảm trong nội tâm của con người, đó là những thái độ, định hướng cho hoạt động, quyết định hành động của con người. Khi con người có sức khỏe, tinh thần tốt sẻ làm việc đạt kết quả cao.
Thể lực được thể hiện qua các tiêu chí: Chiều cao, cân nặng, bệnh tật. Thứ ba là tâm lực: là năng lực và ý chí của con người. Tâm lực là sức mạnh tâm lý của con người. Tâm lực cao hay thấp thể hiện ở mức độ nhận thức về kỷ luật, tự giác, sự hợp tác, tác phong, lề lối làm việc, trách nhiệm, đạo đức, thẩm mỹ, quan điểm sống… Thứ tư là sự đồng bộ về cơ cấu: Chất lượng nhân lực ngoài các yếu tố nêu trên nó còn được thể hiện thông qua cơ cấu nhân lực trong đơn vị sự nghiệp công lập một cách hợp lý vừa để huy động và sử dụng có hiệu quả sức lực, trí lực, tâm lực của 8 nhân lực.
đó là, chất lượng nhân lực thể hiện ở khía cạnh đáp ứng, phù hợp theo cơ cấu giới tính; khoảng tuổi; theo cơ cấu nhân lực trực tiếp, gián tiếp, quản lý; theo cơ cấu trình độ chuyên môn từng ngành, nghề, lĩnh vực. Theo Đỗ Văn Phức, xem chất lượng nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập là mức độ đáp ứng nhu cầu về mặt toàn bộ và về mặt đồng bộ ( cơ cấu) các loại. Quan điểm đó thể hiện chất lượng nhân lực gồm tri lực, thể lực, tâm lực và cả về mặt cơ cấu nhân lực hợp lý, phù hợp đáp ứng yêu cầu phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập trong hiện tại và tương lai xác định. Chất lượng nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập thể hiện sức mạnh hợp thành của khả năng lao động.
Chất lượng nhân lực cuối cùng được thể hiện qua kết quả công việc và hiệu quả mạng lại, được đánh giá thông qua chỉ số chi phí lao động và kết quả lao động. Trong thực tế hoạt động của mình, chất lượng nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức càng cao thì hoạt động càng trôi chảy; thời gian giải quyết công việc nhanh hơn, kịp thời hơn, năng lực cạnh tranh của sản phẩm càng cao. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành một loạt các hoạt động một cách khoa học nhất. Trong đó, những con người trong tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nhiệm vụ được giao một cách say mê, sáng tạo khi họ có trình độ đáp ứng yêu cầu, phù hợp, có sức khỏe tốt và được tạo động lực, tức là cơ chế khuyến khích hấp dẫn, đảm bảo hài hoà lợi ích giữa cá nhân và tập thể.
Một tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập khi đông đảo công chức, viên chức, người lao động làm việc say mê, sáng tạo thì sản phẩm làm ra có chất lượng cao với chi phí thấp nhất. Khi đó, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập này sẽ hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra tốt hơn so với tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập khác. Trong nền kinh tế thị trường, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập cần phải đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, từ đó khắc phục các yếu tố cản trở sự phát triển của tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, tập trung đầu tư, tận dụng các yếu tố thuận lợi, cơ hội để nâng cao khả năng thích ứng, vượt khó, có khi cạnh tranh, mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất.