ĐẶT VẤN ĐỀ Gây mê – hồi sức là việc thực hiện một số hoặc tất cả hoạt động trong các hoạt động khám trước gây mê, gây mê, hồi tỉnh, hồi sức ngoại khoa và chống đau. Cán bộ gây mê hồi sức (GMHS) là tên gọi chung dành cho các bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên gây mê hồi sức tại các bệnh viện. Cán bộ GMHS đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động cung ứng các dịch vụ, kỹ thuật gây mê; phẫu thuật; hồi tỉnh; hồi sức; chống đau và một số chuyên môn khác tại bệnh viện [11]. Khoa gây mê hồi sức là khoa lâm sàng có sự kết hợp mật thiết với tất cả những khoa lâm sàng khác đặc biệt là các khoa hệ ngoại.
Ngoài chức năng thực hiện công tác gây mệ hồi sức thì khoa còn có các nhiệm vụ đào tạo, tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế về lĩnh vực gây mê – hồi sức, tham gia quản lý kinh tế y tế trong đơn vị và thực hiện các nhiệm vụ khác do người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phân công. Chính vì vậy, để hoạt động GMHS có hiệu quả thì mỗi bệnh viện phải có đội ngũ nhân lực GMHS đủ về số lượng và chất lượng với cơ cấu hợp lý. Việc thiếu hụt cán bộ GMHS và bất hợp lý về trình độ và cơ cấu sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động chuyên môn của khoa cũng như chất lượng điều trị và chăm sóc chung của bệnh viện [32]. Các cán bộ GMHS được coi là người “gác của sinh tử” cho bệnh nhân trong mỗi ca mổ, là người “đi trước về sau” tại các bệnh viện.
Lĩnh vực GMHS quan trọng là vậy thế nhưng chuyên ngành hồi sức lại được coi là chuyên ngành “thầm lặng” thuộc về hệ ngoại trước kia, ít người biết và ít người hiểu. Trong những năm gần đây GMHS đã được chú trọng và đóng góp lớn trong các phẫu thuật nội soi, ghép tạng, phẫu thuật sử dụng Robob… Tuy nhiên, số phát triển của cán bộ GMHS chưa tương xứng với sự phát triển của ngành và nhu cần của xã hội. Nhân lực GMHS là nhân lực hiếm, được trả lương, phụ cấp cao hơn so với một số chuyên ngành khác nhưng lại không thu hút được nhân lực. Cơ sở để xác định mức biên chế nhân lực GMHS tại các bệnh viện Việt Nam cho đến nay dựa vào quyết định số 1895/1997/ QĐ-BYT về quy chế bệnh viện ngày 19 tháng 09 năm 1997, theo thông tư 13/2012/TT-BYT về hướng dẫn công tác GMHS ngày 20 tháng 08 năm 2012 và 2 theo thông tư 50/2014/TT-BYT về định mức nhân lực tối đa trong thực hiện phẫu thuật, thủ thuật đính kèm phụ lục ngày 26 tháng 12 năm 2014 [6], [11], [12].
Mặc dù đã được ban hành và áp dụng nhưng thực tế nhân lực GMHS ở nước ta so với TT13 và TT08 cả về số lượng và chất lượng đều không đạt. Hiện nay, Việt Nam thực trạng thiếu nhân lực y tế nói chung và cán bộ GMHS nói riêng đang khá phổ biến, theo thông kê năm 2018 có khoảng 1.000 bác sĩ gây mê hồi sức (BS GMHS) - tỷ lệ 1/96. Trong khi đó ở Singapore là 1/24. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực GMHS tại các bệnh viện công hiện nay là thu nhập thấp, điều kiện làm việc không đảm bảo, không có cơ hội thăng tiến, áp lực công việc, cơ hội đào tạo ít, mối quan hệ với đồng nghiệp và lãnh đạo hạn chế [2].
Tiền lương là yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng rời bỏ công việc đề tìm kiếm công việc được trả lương cao hơn [37]. Bên cạnh đó, việc thiếu về số lượng và không đủ trình độ của nhân viên y tế khiến công việc bị quá tải làm cho nhân viên có thể rời bỏ vị trí công việc tại các bệnh viện công càng nhiều. Điều này có thể gây thiệt hại lớn cho bệnh viện và cả người lao động [38]. Lào Cai là tỉnh miền núi phía Bắc, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện, với nên kinh tế đa dạng Lào Cai đặt mục tiêu đến năm 2025 trở thành tỉnh phát triển của vùng Trung du miền núi phía Bắc và là tỉnh phát triển khá của cả nước.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội đó là sự phát triển của ngành y tế với số lượng cán bộ y tế ngày càng tăng. Tuy nhiên, số lượng bác sỹ, điều dương, kỹ thuật viên nói chung và cán bộ GMHS nói riêng là chưa đủ, trình độ chưa cao, việc tuyển dụngnhân lực còn hạn chế. Tổng số CB GMHS năm 2015 là 86, năm 2020 là 90, như vậy 11 viện công lập chỉ có thêm 4 cán bộsau 5 năm, ít hơn so với nhu cầu thực tế theo TT08, TT13 của Bộ y tế. Số cán bộ y tế học sau đại học còn ít và nhiều ví trí chuyên môn phải kiêm nhiệm.
Cho đến nay các bệnh viện công lập của tỉnh vẫn đang đứng trước những thách thức thiếu hụt nguồn lực, việc duy trì và phát triển nhân lực GMHS của các đơn vị hết sức khó khăn. Để thực hiện được mục tiêu y tế đã đề ra thì việc duy trì và phát triển nhân lực GMHS sao cho hợp lý, sử dụng nhân lực hiệu quả rất cần thiết cho các bệnh việc công tỉnh Lào Cai. Câu hỏi đặt ra: Thực trạng phát triển nhân lực GMHS tại 3 tỉnh Lào Cai thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác phát triển nhân lực GMHS? Để có cơ sở khoa học từ đó đề xuất giải pháp hữu hiệu cho công tác quản lý, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển nhân lực gây mê hồi sức tại các bệnh viện công của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020” nhằm cung cấp cho các nhà quản lý nắm rõ thông tin thực trạng nguồn nhân lực để xuất các giải pháp nhằm phát triển nhân lực GMHS tại các bệnh viện công lập trong tương lai. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng phát triển nhân lực gây mê hồi sức tại các bệnh viện công tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển nhân lực gây mê hồi sức tại các bệnh viện công tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020. Một số khái niệm về nhân lực và quản lý nhân lực y tế 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL): là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng tại một thời điển nhất định.
Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thànhviên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tấtcả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực và trí lực [4], [21], [24]. Nguồn nhân lực y tế và nhân lực GMHS 1. Nhân lực y tế Nguồn nhân lực y tế (Health human resources: HHR) còn được biết là nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe (human resources for health: HRH) hoặc lực lượng lao động chăm sóc sức khỏe (health workforce), Năm 2006, WHO đưa ra khái niệm “nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”.
Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Như vậy, y tế chính thức và cán bộ y tế không chính thức (tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y); kể cả những người làm trong ngành y và trong những ngành khác (như quân đội, tường học hay các doanh nghiệp) [8], [21], [24]. Nhân lực GMHS: Nhân lực GMHS là nhóm nhân lực y tế điều trị và chăm sóc chuyên nghiệp tại bệnh viện bao gồm bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật gây mê hồi sức, trong đó [11]: Bác sỹ gây mê - hồi sức là bác sỹ đã được đào tạo về chuyên khoa gâymê - hồi sức từ 18 tháng trở lên và được cấp chứng chỉ hành nghề theo quy địnhcủa pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. 6 Điều dưỡng viên gây mê - hồi sức là điều dưỡng viên có văn bằng chuyên khoa gây mê - hồi sức và được cấp chứng chỉ hành nghề theo quy địnhcủa pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Kỹ thuật viên gây mê - hồi sức là kỹ thuật viên có văn bằng chuyên khoa gây mê - hồi sức và được cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định củaphápluật về khám bệnh, chữa bệnh. Điều dưỡng bộ phận phẫu thuật là điều dưỡng viên có giấy xác nhận đã được đào tạo về điều dưỡng phẫu thuật và được cấp chứng chỉ hành nghề theoquy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực Số lượng: Số lượng nhân lực phụ thuốc vào thời gian làm việc có thể có được của cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Số lượng nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Chất lượng: chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hóa lao động, phẩm chất tốt đẹp của người công nhân.
Khái niệm về quản lý nguồn lực và quản lý nhân lực y tế 1. Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực Quản lý được áp dụng từ thời kỳ sơ khai của cuộc sống cộng đồng, từ sau năm 30 của thể kỷ 20, quản lý mang tính khoa học. Quản lý nguồn nhân lực hay quản trị nhân lực bao gồm việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức[14]. Quản lý nguồn nhân lực còn được hiểu là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức.
Dù ở góc độ nào thì quản lý nguồn nhân lực vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cà về số lượng và chất lượng[4, [33].