CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các nghiên cứu đánh giá trên thế giới Bartlett và cộng sự (2008) nghiên cứu năng lực nghề nghiệp của sinh viên cử nhân đại học và học sinh ĐD trung học tại các cơ sở đào tạo ĐD của Anh. Kết quả cho thấy, vào thời điểm sau tốt nghiệp, không có sự khác biệt về năng lực giữa sinh viên đại học và trung học trên các khía cạnh năng lực bao gồm phát triển nghề nghiệp (5,24 ± 0,65), nhận định ĐD, lập kế hoạch (5,7 ± 0,57), can thiệp ĐD (5,27 ± 0,78), và năng lực tư duy (4,81 ± 0,42).
Đặc biệt, cử nhân ĐD đại học lại có năng lực (5,12 ± 0,34) thấp hơn so với học sinh trung học ĐD ở nội dung năng lực lãnh đạo (5,41 ± 0,64), (p < 0. Nghiên cứu năng lực nghề nghiệp ở 07 lĩnh vực trên 498 ĐD Phần Lan, nhóm tác giả Meretoja, Isoaho và Leino-Kilpi (2004) nhận thấy lĩnh vực mà ĐD có năng lực nhất là “quản lý tình huống” (managing situations) (5,34 ± 0,68), bao gồm các hoạt động về nhận định người bệnh (5,41 ± 0,62), lập kế hoạch chăm sóc (5,37 ± 0,67), bảo quản trang thiết bị (5,32 ± 0,75), Lĩnh vực mà ĐD có năng lực thấp nhất là “đảm bảo chất lượng” (ensuring quality) (5,21 ± 0,68), như đánh giá sự hài lòng của người bệnh với dịch vụ chăm sóc (5,13 ± 0,54), áp dụng các bằng chứng khoa học vào chăm sóc (5,05 ± 0,65), nghiên cứu khoa học (5,03 ± 0,25). Nghiên cứu về một cải cách mới của giáo dục đại học ở Thụy Điển, dựa trên luật giáo dục mới hơn (SFS) các chương trình giáo dục đào tạo ĐD đã định hướng mục tiêu, cung cấp nền tảng cho khả năng làm việc tự chủ, ĐD đạt tốt các năng lực quản lý chuyên nghiệp. Bisholt và cộng sự 6 thấy rằng ĐD trong nhóm nghiên cứu có Lĩnh vực năng lực quản lý và phát triển nghề nghiệp đạt cao nhất có trung bình điểm đạt 28,27 ± 2,46 điểm.
Cũng trong nghiên cứu này Birgitta K. Bisholt và cộng sự cũng cho thấy tiêu chuẩn năng lực đạt điểm trung bình cao nhất trong lĩnh vực quản lý và phát triển nghề nghiệp: Năng lực lãnh đạo làm việc nhóm (4,38 ± 0,23). Năng lực quản lý công tác chăm sóc sức khỏe (4,29 ± 0,24), Năng lực phát triển chuyên môn (4,18 ± 0,26). Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (3,63 ± 1,11).
Nghiên cứu về năng lực toàn diện của ĐD ở Đan Mạch, tác giả Dorthe Boe Danbjorg và Regner Birkelund đã phân tích rằng mô hình giáo dục trước ( mô hình “ Nightingale apprenticeship”) đã tạo ra đội ngũ ĐD hạn chế trong quan điểm, khả năng chịu thay đổi và không thể đối phó với các vấn đề khoa học và kỹ thuật tiến bộ trong Y học, nhưng nững năm gần đây việc đào tạo, hài hòa với phát triển quốc tế, ĐD học tập có định hướng. Kết quả nghiên cứu của Dorthe Boe Danbjorg và Regner Birkelund về năng lực toàn diện của ĐD có tỷ lệ đạt tốt > 83,7%. Nghiên cứu năng lực chuyên nghiệp các lĩnh vực ĐD của 930 sinh viên ĐD đang học và ĐD đang làm tại các bệnh viện thuộc khu vực nam nước Anh của Steve R.