Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. Chương 3: Giải pháp quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. Luan van 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI 1.
Một số khái niệm về nhà ở, nhà ở xã hội và phát triển nhà ở xã hội 1. Khái niệm về nhà ở Theo Từ điển Tiếng Việt, “nhà” được hiểu là công trình xây dựng có mái và tường bao quanh, cửa ra vào để ở, sinh hoạt văn hoá, xã hội hoặc cất giữ vật chất, là chỗ ở và sinh hoạt của một gia đình. Theo Từ điển Cambridge, “nhà” là công trình nơi con người, thường là một gia đình, sinh sống trong đó. Nhìn nhận trên phương diện quy định của pháp luật, “nhà ở” được định nghĩa là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân.
Nhà ở bao gồm nhiều loại hình và được phân loại tùy theo sở hữu, mục đích sử dụng hoặc hình thức kinh doanh, cụ thể: Thứ nhất, theo tính chất sở hữu: nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; nhà ở thuộc sở hữu tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế; nhà ở thuộc sở hữu tư nhân; Thứ hai, theo loại hình: nhà ở riêng lẻ và nhà ở chung cư; Thứ ba, theo hình thức kinh doanh: nhà ở để bán, nhà ở để cho thuê. Thứ tư, theo mục đích sử dụng: nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở để phục vụ tái định cư, nhà ở của hộ gia đình, cá nhân. Khái niệm về nhà ở xã hội Trong các loại hình nhà ở nêu trên, nhà ở xã hội là loại hình nhà ở được đầu tư xây dựng có sự hỗ trợ của Nhà nước để tạo lập quỹ nhà ở giá rẻ cung cấp cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội về nhà ở. Chủ thể tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội có thể là Nhà nước hoặc tư nhân (tổ chức hoặc cá nhân); tuy nhiên, các đối tượng thụ hưởng loại hình nhà ở này bị hạn Luan van 9 chế, có thể kể đến là người có thu nhập thấp, cán bộ công chức nhà nước có khó khăn về nhà ở…, chính vì vậy, các loại hình nhà ở xã hội cần có sự kiểm soát của Nhà nước từ khâu quy hoạch, dự án đầu tư đến đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở.
Trên thế giới, thuật ngữ “nhà ở xã hội” được hiểu theo nhiều cách khác nhau tại từng quốc gia, như tại Anh Quốc, nhà ở xã hội được định nghĩa là loại hình nhà ở thuộc sở hữu của chính quyền địa phương hoặc các tổ chức tư nhân cung cấp nhà ở để cho thuê theo quy định; tại Mỹ, nhà ở xã hội được hiểu là nhà ở công cộng được xây dựng để cung cấp loại hình nhà ở cho thuê giá rẻ, an toàn cho các gia đình có thu nhập thấp, người tàn tật và người già. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa nhà ở xã hội là nhà ở cho thuê theo giá thấp hơn giá thị trường và được cung cấp theo quy định cụ thể thay vì theo cơ chế thị trường. Tại Việt Nam [8], nhà ở xã hội được định nghĩa là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở. Nhà ở xã hội là nhà chung cư hoặc nhà ở riêng được xây dựng khép kín, diện tích tối đa là 70m2 sàn đối với căn hộ chung cư và 70m2 đất xây dựng đối với nhà ở liền kề thấp tầng.
Các đối tượng được hưởng chính sách xã hội về nhà ở bao gồm mười đối tượng: Một là, người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; Hai là, hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn; Ba là, hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; Bốn là, người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị; Năm là, người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp; Luan van 10 Sáu là, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân; Bảy là, cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; Tám là, các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này; Chín là, học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập; Mười là, hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở. Khái niệm về phát triển nhà ở xã hội Phát triển nhà ở xã hội là quá trình đầu tư xây dựng mới, xây dựng lại hoặc cải tạo nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật. Nhà ở xã hội được phát triển dưới hai hình thức: Phát triển nhà ở xã hội theo dự án và phát triển nhà ở xã hội của hộ gia đình, cá nhân. Quản lý nhà nƣớc về phát triển nhà ở xã hội 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội Quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu dự kiến (mục tiêu quản lý). Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Quản lý nhà nước nói chung, hay quản lý hành chính nhà nước nói riêng mang tính toàn diện, bao quát tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội trong ranh giới một quốc Luan van 11 gia, tuy nhiên tùy đặc điểm cụ thể của từng vùng lãnh thổ mà cách thức và phương pháp quản lý nhà nước có thể khác nhau, đòi hỏi sự thống nhất trên phạm vi quốc gia đồng thời có tính đến yếu tố đặc trưng của từng lãnh thổ. Quản lý nhà nước mang tính quyền lực, sử dụng các công cụ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và bộ máy của mình để quản lý xã hội.
Quản lý nhà nước bao gồm ba chức năng chính: chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; chức năng hành pháp do cơ quan hành pháp thực hiện; chức năng tư pháp do cơ quan tư pháp thực hiện. Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức, đơn vị được trao quyền, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp; Đối tượng quản lý nhà nước gồm tất cả các tập thể, tổ chức, cá nhân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và công dân của quốc gia làm việc ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia đó. Quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội là một bộ phận của quản lý nhà nước, do đó ngoài những tính chất, đặc trưng chung thì còn có đối tượng, nguyên tắc quản lý riêng biệt. Quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội là sự tác động của nhà nước thông qua chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đến hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở xã hội nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của nhà nước về phát triển nhà ở xã hội.
Về vĩ mô, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua việc ban hành khung pháp lý (như Luật, Nghị định, Thông tư về phát triển nhà ở xã hội) bắt buộc các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ; Xây dựng chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch để định hướng mục tiêu phát triển nhà ở xã hội mà Nhà nước hay Thành phố muốn đạt được, xác định khu vực, các chỉ tiêu và lộ trình để đạt được các chỉ tiêu đó. Về vi mô, Nhà nước kiểm soát hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thông qua việc chấp thuận (hoặc chấp thuận điều chỉnh) kế hoạch sử dụng đất, chủ trương đầu tư, quy hoạch xây dựng, lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án nhà ở xã hội, thiết kế, cấp phép xây dựng và tổ chức kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm theo thẩm quyền và quy định của pháp luật. Luan van 12 Từ khái niệm trên có thể nhận thấy đối tượng của quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội là hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở xã hội và các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động đó. Nguyên tắc quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội Nguyên tắc quản lý nhà nước gồm: Đảng lãnh đạo thống nhất; Tập trung, dân chủ; Nhân dân được tham gia rộng rãi vào hoạt động quản lý nhà nước; Quản lý bằng pháp luật và tuân thủ pháp luật (pháp chế xã hội chủ nghĩa); Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ; Công khai, minh bạch.
Quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội là một dạng cụ thể của quản lý nhà nước nói chung, do đó ngoài các nguyên tắc chung của quản lý nhà nước nêu trên còn có các nguyên tắc cụ thể như sau: 1. Nguyên tắc quản lý thống nhất của Nhà nước Nhà ở xã hội đóng vai trò quan trọng trong công tác đảm bảo an sinh xã hội và phát triển kinh tế - xã hội, do đó việc Nhà nước thống nhất quản lý nhà ở xã hội là cần thiết. Nhà nước đóng vai trò quan trọng, “người lái đò” trong định hướng phát triển nhà ở xã hội, với nhiệm vụ tạo hành lang pháp lý hỗ trợ về cơ chế, chính sách, chiến lược, chương trình, kế hoạch, quy hoạch, đất đai, hạ tầng kỹ thuật, tài chính và thuế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển nhà ở xã hội.