Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đổi mới và đô thị hóa nhanh chóng tại thành phố Đà Nẵng sau khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương đã tạo ra sức ép khổng lồ lên hạ tầng và quỹ nhà ở xã hội. Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố duy trì bình quân 10,97%/năm, kéo theo làn sóng nhập cư lớn với mức tăng dân số cơ học khoảng 15.000 người mỗi năm, nâng tỷ lệ đô thị hóa lên mức kỷ lục 86,87% vào năm 2009. Đồng thời, toàn thành phố đã thu hồi 9.488 ha đất, ảnh hưởng trực tiếp tới 82.740 hộ dân diện giải tỏa đền bù, trong đó có hơn 8.200 hộ phụ và hộ nhận đền bù thấp gặp khó khăn gay gắt về chỗ ở.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu bắt nguồn từ sự thất bại của thị trường bất động sản tự do: tình trạng đầu cơ đẩy giá đất tăng vọt, trong khi hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất nới rộng từ 5,4 lần năm 2002 lên 6,6 lần năm 2010. Dù chính quyền địa phương đã nỗ lực ban hành Đề án xây dựng 7.000 căn hộ theo Quyết định số 3882/QĐ-UBND nhằm thực hiện mục tiêu "Có nhà ở", thực tế đến cuối năm 2011 chỉ có 4.848 căn hộ trên tổng số 15.864 căn được phê duyệt đi vào vận hành.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi các gói chính sách nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005-2011. Đề tài đi sâu phân loại hình thức sở hữu, cơ chế định giá thành, khả năng thanh toán thực tế của người dân và tương quan cung - cầu. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính thực tiễn cao khi cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương tái cấu trúc chính sách tài chính nhà ở, hướng đến mục tiêu an sinh xã hội bền vững và tối ưu hóa ngân sách công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học vi mô về thất bại thị trường và vai trò can thiệp của Nhà nước vào thị trường nhà ở. Khi thị trường tự do vận hành, ngoại tác tích cực của việc cải thiện điều kiện sống không được phản ánh đầy đủ vào giá cả, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung nhà ở giá rẻ cho các tầng lớp yếu thế. Khung phân tích chính sách của Steekelenburg (2011) được áp dụng để giải phẫu hai trục can thiệp chính: can thiệp bên cung (hỗ trợ đất sạch, ưu đãi thuế, tài trợ hạ tầng ngoài hàng rào) và can thiệp bên cầu (trợ cấp lãi suất, bảo lãnh tín dụng, quy chế trả góp).

Bên cạnh đó, mô hình đánh giá chính sách dựa trên bốn nhóm yếu tố tác động: nhân khẩu học và tốc độ đô thị hóa, năng lực kinh tế địa phương, nguồn lực tài chính công và cam kết chính trị. Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa theo Luật Nhà ở năm 2005 và các tiêu chuẩn của Tổng cục Thống kê:

  • Nhà ở xã hội và nhà ở thu nhập thấp: Quỹ nhà ở do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng phi lợi nhuận phục vụ đối tượng chính sách và người dân có hoàn cảnh khó khăn.
  • Hộ thu nhập thấp: Các hộ gia đình thuộc nhóm 1 và nhóm 2 theo phân vị thu nhập quốc gia (thu nhập bình quân dưới 1.051.800 đồng/người/tháng vào năm 2010) hoặc không thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân thường xuyên.
  • Nhà chung cư: Công trình nhà ở từ hai tầng trở lên có hệ thống hạ tầng kỹ thuật và không gian sinh hoạt dùng chung.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng dựa trên việc xử lý dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đáng tin cậy. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua cuộc điều tra khảo sát thực địa phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, triển khai từ ngày 01/12/2011 đến ngày 28/02/2012. Tổng số mẫu hợp lệ đạt 153 hộ gia đình đang trực tiếp sinh sống tại các khu chung cư thu nhập thấp trên địa bàn toàn thành phố. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm phản ánh chính xác cơ cấu các nhóm đối tượng thụ hưởng theo các dự án chung cư khác nhau.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả và kiểm định tần số trên phần mềm SPSS là nhằm lượng hóa trực quan các chỉ số về mức độ hài lòng, cơ cấu chi trả tài chính và tỷ lệ sai lệch đối tượng thụ hưởng. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp và đối chiếu từ các nguồn chính thống: Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/04/2009 của Cục Thống kê Đà Nẵng, Khảo sát mức sống hộ gia đình (VHLSS) từ năm 2002 đến năm 2010 của Tổng cục Thống kê, cùng các báo cáo tiến độ dự án từ Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005-2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm và phân tích dữ liệu cho thấy việc triển khai chính sách nhà ở thu nhập thấp tại Đà Nẵng xuất hiện nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng:

Thứ nhất, tiến độ xây dựng và cơ cấu nguồn vốn bị mất cân đối nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2005-2011, thành phố chỉ hoàn thành 74 khối nhà với 4.848 căn hộ, đạt khoảng 65,8% so với mục tiêu kế hoạch ban đầu là 7.361 căn hộ. Đáng chú ý, ngân sách nhà nước phải gánh vác hơn 80% tổng vốn đầu tư, trong khi khu vực tư nhân chỉ hoàn thành vỏn vẹn 282 căn hộ thương mại bán cho người thu nhập thấp do doanh nghiệp Vicoland thực hiện trước khi phải rút lui khỏi thị trường vì thiếu vốn.

Thứ hai, chính sách xuất hiện tỷ lệ sai lệch đối tượng thụ hưởng đáng báo động. Trong 153 hộ được khảo sát, có tới 28,1% số căn hộ đã bị chuyển nhượng hoặc cho thuê lại trái phép (16,34% mua lại qua hợp đồng viết tay và 11,76% thuê lại từ các cá nhân khác). Đặc biệt, trong nhóm 56 hộ mua nhà theo diện chính sách, có đến 53,57% hộ thanh toán toàn bộ 100% tiền mua nhà ngay trong lần đầu tiên với mức giá từ 250 đến 400 triệu đồng. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với mức thu nhập bình quân chỉ 667.700 đồng/tháng của nhóm hộ nghèo nhất tại Đà Nẵng vào năm 2010.

Thứ ba, các gói hỗ trợ tài chính cho người mua nhà hoàn toàn mất hiệu lực. Chỉ có 13,1% số hộ khảo sát tiếp cận được gói vay vốn ưu đãi hỗ trợ lãi suất 2,9%/năm của Ủy ban nhân dân thành phố. Nguyên nhân chính là do các ngân hàng thương mại áp đặt điều kiện thế chấp tài sản và yêu cầu người vay phải chứng minh thu nhập tối thiểu 5 triệu đồng/tháng – mức thu nhập tương đương nhóm 5 (nhóm giàu nhất).

Thứ tư, hạ tầng xã hội và chất lượng xây dựng chưa đáp ứng tiêu chuẩn sống cơ bản. Có tới 51% cư dân đánh giá chất lượng hoàn thiện căn hộ ở mức kém và rất kém, trong khi chỉ 8,5% đánh giá tốt. Khảo sát hạ tầng công cộng xung quanh bán kính 10 phút đi bộ cho thấy: 99,3% khu chung cư thiếu bệnh viện, 88,1% thiếu trạm y tế, 94,4% thiếu công viên cây xanh và 97,2% hoàn toàn không có sân chơi an toàn cho trẻ em.

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI (N = 153 HỘ)               |
+---------------------------------------------------+-------------------------------+
| Tiêu chí khảo sát                                 | Tỷ lệ thực tế ghi nhận        |
+---------------------------------------------------+-------------------------------+
| Tỷ lệ căn hộ bị sang nhượng/cho thuê trái phép    | 28,10% (43 hộ)                |
| Tỷ lệ người mua thanh toán trả thẳng ngay 1 lần    | 53,57% (trong nhóm mua nhà)   |
| Tỷ lệ hộ tiếp cận thành công vốn vay ưu đãi       | 13,10%                        |
| Tỷ lệ cư dân đánh giá chất lượng căn hộ kém/rất kém| 51,00%                        |
| Tỷ lệ chung cư thiếu bệnh viện/trạm y tế lân cận  | 99,30% / 88,10%               |
+---------------------------------------------------+-------------------------------+

Thảo luận kết quả

Cơ cấu giá thành xây dựng là nguyên nhân cốt lõi giải thích vì sao nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng lại kém hiệu quả hơn thị trường tự do. Dữ liệu phân tích tại dự án chung cư 12 tầng Nại Hiên Đông (quận Sơn Trà) với quy mô 627 căn hộ và tổng mức đầu tư 247,4 tỷ đồng cho thấy đơn giá sàn xây dựng lên tới 4,94 triệu đồng/m2, trong đó chi phí xây lắp thuần túy chiếm tới 81,35% tổng cơ cấu. Ngược lại, mức chi phí xây lắp sàn tối thiểu của khu vực tư nhân đối với công trình chung cư thương mại dưới 20 tầng chỉ dao động ở mức 3,9 triệu đồng/m2. Dù đã được miễn toàn bộ tiền sử dụng đất và hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào, giá thành nhà ở xã hội do nhà nước làm chủ đầu tư vẫn bị đội lên cao do năng lực quản lý dự án công còn hạn chế.

Các dữ liệu nghiên cứu này khi được trực quan hóa thông qua biểu đồ cơ cấu chi phí xây lắp (phân rã 81,35% chi phí xây thô, 9,55% chi phí thiết bị và 9,1% chi phí quản lý) cùng biểu đồ phân phối mức độ hài lòng dịch vụ công (cấp nước đạt 48,3% đánh giá tốt, điện đạt 44,2% đánh giá tốt) sẽ giúp các nhà quản trị thấy rõ điểm đứt gãy giữa chi phí đầu tư và chất lượng thụ hưởng thực tế.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia Tây Âu như Pháp và Hà Lan đã sớm từ bỏ hình thức bao cấp trực tiếp cho bên cung để chuyển sang trợ cấp lãi suất dài hạn cho bên cầu và thành lập các quỹ bảo lãnh nhà ở xã hội (chiếm từ 1,8% đến 3% GDP). Tại châu Á, mô hình của Cơ quan Phát triển Nhà ở Singapore (HDB) kết hợp với Quỹ Tiết kiệm An sinh Xã hội (CPF) là bài học tương thích nhất với Đà Nẵng nhờ kiểm soát quỹ đất công tập trung và tạo lập cơ chế tiết kiệm bắt buộc qua tiền lương. Khoản chênh lệch thất thoát từ việc cho thuê lại trái phép tại Đà Nẵng ước tính lên tới gần 1 tỷ đồng mỗi tháng trên quy mô 8.450 căn hộ công lập, phản ánh sự lãng phí tài nguyên công nghiêm trọng khi cơ chế sàng lọc đối tượng bị buông lỏng.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết triệt để những bất cập trên, nghiên cứu đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp hành động đồng bộ:

Thứ nhất, chuyển đổi phương thức đầu tư xây dựng nhà ở xã hội sang hình thức Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) có đấu thầu cạnh tranh. Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và Sở Xây dựng cần công bố quy hoạch đất sạch, cung cấp thiết kế mẫu chuẩn hóa và tổ chức đấu thầu công khai để lựa chọn các nhà thầu tư nhân có năng lực thi công tối ưu. Mục tiêu cụ thể là kéo giảm đơn giá sàn xây dựng từ 4,94 triệu đồng/m2 hiện nay xuống sát mức 3,9 triệu đồng/m2 thông qua việc áp dụng công nghệ thi công hiện đại, áp dụng ngay từ quý I năm 2013.

Thứ hai, tái cấu trúc căn bản phương thức can thiệp bằng cách chuyển dịch trọng tâm từ hỗ trợ bên cung sang hỗ trợ bên cầu. Đề nghị Chính phủ và thành phố cắt giảm các gói miễn giảm thuế dàn trải cho doanh nghiệp phát triển bất động sản, chuyển toàn bộ nguồn lực tài chính sang chương trình bảo lãnh tín dụng cá nhân. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Đà Nẵng chủ trì phối hợp cùng các ngân hàng thương mại triển khai gói vay mua nhà trả góp kỳ hạn từ 15 đến 20 năm, cố định biên độ lãi suất ưu đãi dưới 3%/năm cho các hộ gia đình có mức thu nhập thực tế dưới 2 triệu đồng/người/tháng trong giai đoạn 2013-2015.

Thứ ba, thiết lập Quỹ Tiết kiệm Nhà ở Đô thị Đà Nẵng thí điểm theo mô hình quỹ CPF của Singapore. Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Công ty Quản lý Nhà chung cư điều hành quỹ thông qua cơ chế trích lũy bắt buộc từ 5% đến 10% thu nhập hàng tháng của người lao động tại các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn. Quỹ hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính, bảo toàn vốn, tạo nguồn vốn ủy thác cho vay mua nhà với mục tiêu đáp ứng chỗ ở cho 10.000 hộ gia đình lao động đô thị đến năm 2020.

Thứ tư, siết chặt quy trình thẩm định hồ sơ và tăng cường chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi trục lợi chính sách. Thanh tra Sở Xây dựng cùng Công an thành phố tiến hành tổng rà soát định kỳ hàng quý, áp dụng chế tài thu hồi 100% các căn hộ chung cư xã hội bị phát hiện sang nhượng, mua bán trao tay hoặc cho thuê lại trái quy định. Toàn bộ quỹ nhà thu hồi sẽ được tái phân phối công khai cho các hộ nghèo và hộ diện giải tỏa đền bù chưa có chỗ ở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm của luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm độc giả chuyên môn:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị hoạch định chính sách đô thị (Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng). Đề tài cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy chế xét duyệt đối tượng, hoàn thiện khung giá thuê mua và thiết kế Đề án phát triển nhà ở xã hội giai đoạn tiếp theo.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp bất động sản, nhà thầu xây dựng và hiệp hội nghề nghiệp. Các phân tích chi tiết về cơ cấu giá thành xây lắp 3,9 - 4,94 triệu đồng/m2 giúp doanh nghiệp định vị bài toán chi phí, nâng cao hiệu quả quản trị vật tư và chủ động tham gia các gói thầu dự án BT công cộng.

Nhóm thứ ba là các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư phát triển đô thị. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về khả năng chi trả của các phân khúc thu nhập thấp, là cơ sở để thiết kế các sản phẩm cho vay mua nhà thế chấp vi mô dài hạn có tính khả thi cao.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và các chuyên gia nghiên cứu kinh tế - xã hội chuyên ngành Chính sách công và Kinh tế đô thị. Công trình đóng vai trò là một case study mẫu mực về ứng dụng phương pháp phân tích chính sách định lượng, điều tra xã hội học và giải quyết bài toán ngoại tác thị trường tại các đô thị đang chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chính sách phát triển nhà ở thu nhập thấp tại Đà Nẵng giai đoạn 2005-2011 không đạt mục tiêu kế hoạch?

Nguyên nhân chủ yếu do thành phố quá phụ thuộc vào nguồn vốn ngân sách nhà nước (chiếm hơn 80%) trong khi các cơ chế ưu đãi tín dụng chưa đủ hấp dẫn để thu hút khối tư nhân. Doanh nghiệp duy nhất tham gia là Vicoland cũng phải dừng dự án do không tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi khi thiếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tình trạng sang nhượng và cho thuê lại căn hộ chung cư xã hội tại Đà Nẵng nghiêm trọng như thế nào?

Theo khảo sát thực tế trên 153 hộ dân, có tới 28,1% số căn hộ đang bị sử dụng sai đối tượng ban đầu (16,34% mua lại và 11,76% thuê lại từ các cá nhân khác). Cơ quan chức năng thành phố đã từng phát hiện hơn 1.500 trường hợp vi phạm, gây thất thoát ngân sách ước tính gần 1 tỷ đồng mỗi tháng từ tiền trợ cấp nhà ở.

Vì sao người có thu nhập thấp thực sự lại không thể tiếp cận gói hỗ trợ lãi suất 2,9%/năm?

Dù có chính sách hỗ trợ lãi suất từ Ủy ban nhân dân thành phố, các ngân hàng thương mại vẫn áp dụng quy trình tín dụng thông thường, đòi hỏi người vay phải có tài sản thế chấp hoặc mức thu nhập tối thiểu 5 triệu đồng/tháng. Điều kiện này đã loại bỏ hoàn toàn các hộ nghèo thuộc nhóm 1 và nhóm 2 vốn chỉ có thu nhập bình quân dưới 1,1 triệu đồng/tháng.

Cơ sở nào cho thấy mô hình nhà ở của Singapore phù hợp để áp dụng thí điểm tại Đà Nẵng?

Đà Nẵng có quy mô dân số và quỹ đất công tương đương Singapore ở giai đoạn đầu phát triển với 55 vị trí đất sạch đã được quy hoạch sẵn cho 22.811 căn hộ chung cư. Quyết tâm chính trị thông qua Chương trình "Có nhà ở" cùng thặng dư ngân sách địa phương dồi dào tạo tiền đề vững chắc để thành phố thiết lập Quỹ Tiết kiệm Nhà ở tập trung.

Giải pháp kỹ thuật nào giúp giảm giá thành xây dựng nhà ở xã hội mà không làm suy giảm chất lượng?

Giải pháp then chốt là đấu thầu công khai dự án theo hình thức BT để khu vực tư nhân tự tối ưu hóa công nghệ thi công và vật liệu mới, giúp đưa chi phí xây lắp về mức tối ưu 3,9 triệu đồng/m2. Đồng thời, cơ quan quản lý phải kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn vật liệu đầu vào và nghiệm thu công trình độc lập.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng chính sách phát triển nhà ở thu nhập thấp tại Đà Nẵng giai đoạn 2005-2011, chỉ rõ sự mất cân đối khi ngân sách nhà nước gánh hơn 80% vốn đầu tư nhưng chỉ hoàn thành được 4.848 căn hộ.
  • Kết quả khảo sát thực nghiệm 153 hộ dân chứng minh chính sách chưa đến đúng đối tượng thụ hưởng với 28,1% căn hộ bị sang nhượng/cho thuê lại trái phép và 53,57% người mua trả thẳng toàn bộ giá trị căn hộ ngay lần đầu.
  • Nghiên cứu chỉ ra sự kém hiệu lực của chính sách tín dụng khi chỉ 13,1% hộ tiếp cận được gói vay ưu đãi, đồng thời phân tích cơ cấu giá thành xây dựng 4,94 triệu đồng/m2 của khu vực công cao hơn đáng kể so với mức tối ưu 3,9 triệu đồng/m2 của tư nhân.
  • Khung giải pháp mang tính đột phá đề xuất chuyển đổi căn bản sang cơ chế đấu thầu xây dựng BT, chuyển dịch hỗ trợ tài chính từ bên cung sang bên cầu và thành lập Quỹ Tiết kiệm Nhà ở Đô thị theo mô hình Singapore.
  • Đề tài đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc cho chuyên ngành Chính sách công, mở ra hướng đi chiến lược để thành phố Đà Nẵng hoàn thiện Chương trình "3 có" trong giai đoạn 2013-2020.

Chính quyền thành phố Đà Nẵng và các cơ quan hữu quan cần khẩn trương xem xét, phê duyệt lộ trình thí điểm Quỹ Tiết kiệm Nhà ở Đô thị ngay trong năm 2013 nhằm đảm bảo an sinh xã hội bền vững cho toàn thể nhân dân lao động. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và các đơn vị phát triển đô thị quan tâm có thể liên hệ tham khảo toàn văn luận văn tại Thư viện Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright để ứng dụng vào công tác thực tiễn.