Chương I: Cơ sở lý luận về vấn đề nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp Chương II: Thực trạng và nhu cầu phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại đô thị và các khu công nghiệp tập trung của Thành phố Hồ Chí Minh. Chương III: Định hướng phát triển và các giải pháp để phát triển thị trường nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NHÀ Ở XÃ HỘI CHO NGƢỜI THU NHẬP THẤP 1. Tổng quan về vấn đề nhà ở xã hội cho ngƣời thu nhập thấp 1.
Những vấn đề chung về nhà ở và nhà ở xã hội Nhà ở là một vật thể được kiến trúc và xây dựng tại một địa điểm cụ thể nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trú ngụ và sinh hoạt hàng ngày của con người. Quá trình đầu tư xây dựng nhà ở là quá trình sử dụng các nguồn lực gồm đất đai, nguyên vật liệu, sức lao động, vốn để kiến tạo nhà và các cơ sở hạ tầng cần thiết. Theo quan điểm này, nhà ở là một động từ hơn là một danh từ (Turner and Ficher 1972). Nhà ở là nhu cầu rất quan trọng trong đời sống con người, chỉ đứng sau nhu cầu an toàn, ăn, mặc.
Không chỉ là mái ấm gia đình, nhà ở là nơi tạo ra chất lượng cuộc sống và biểu hiện khả năng tài chính của người sở hữu. Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề phát triển nhà ở không chỉ tập trung vào ngôi nhà mà còn tập trung vào cuộc sống của người nghèo đô thị (Perlman 1987, Hardoy và Satterthwaite 1989). Phát triển kinh tế luôn đi cùng với sự phân hóa giàu nghèo mà biểu hiện cụ thể là sự chênh lệch về mức thu nhập đang ngày càng tăng trên phạm vi toàn thế giới. Từ những nền kinh tế phát triển nhất như Mỹ, EU đến những nền kinh tế đang phát triển, sự bất bình đẳng về thu nhập đang không ngừng tăng dẫn đến sự phân tầng xã hội trong cộng đồng dân cư, bao gồm những người, hộ gia đình có thu nhập rất cao, thu nhập cao, thu nhập trung bình, thu nhập thấp và thu nhập rất thấp.
Người thu nhập cao không khó sở hữu một hay rất nhiều ngôi nhà đẹp, trong khi một bộ phận lớn những hộ gia đình thu nhập thấp và thu nhập rất thấp đều gặp khó khăn về tạo lập nhà ở. Mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đều quan tâm đến việc phát triển nhà ở cho các đối tượng thu nhập thấp. Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước, mỗi giai đoạn phát triển mà chính sách tạo lập nhà ở cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 các đối tượng trên cũng khác nhau. Nhà ở cho người có thu nhập thấp là nhà ở được xây dựa trên quỹ nhà ở xã hội của một quốc gia, một địa phương dành cho đa số dân cư và người lao động có thu nhập dưới mức trung bình trong xã hội.
Loại hình nhà ở này có thể do nhà nước hay các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư để hỗ trợ cho các đối tượng thu nhập thấp thuê, thuê mua hoặc tạm thời cư trú và thường được gọi là nhà ở xã hội, nhà ở cộng đồng, nhà ở tập thể… Như vậy, nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp có thể là nhà riêng, nhà thuê thuộc sở hữu cá nhân, sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu cộng đồng và nhà nước… 1.2 Khái niệm nhà ở xã hội ở nước ta Theo điều 33 Luật nhà ở được Quốc hội thông qua tháng 7/2006, nhà ở xã hội là nhà ở được nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế trong xã hội đầu tư xây dựng để “cho thuê” hoặc “thuê - mua” đối với một bộ phận những người có thu nhập thường xuyên ổn định nhưng chưa đủ điều kiện để mua nhà ở trên thị trường. Theo điều 53 Luật nhà ở, đối tượng được thuê nhà ở xã hội là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các đối tượng khác theo quy định của Chính phủ. Các đối tượng trên đây là lực lượng lao động quan trọng của nền kinh tế và phần lớn đang gặp khó khăn về nhà ở. Trên thực tế còn rất nhiều đối tượng khác đang gặp khó khăn về nhà ở và sẽ được Nhà nước tạo điều kiện tạo lập nhà ở thông qua các chương trình khác như nhà ở cho người nghèo, nhà tái định cư, nhà tình thương, tình nghĩa….
Điều kiện được thuê nhà ở xã hội gồm (1) Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình và chưa được thuê hoặc mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; (2) Có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích bình quân trong hộ gia đình dưới 5m 2 sàn/người; (3) Có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng là nhà ở tạm, hư hỏng hoặc dột nát. Ngoài các điều kiện trên, người được thuê mua nhà ở xã hội phải thanh toán lần đầu 20% giá trị của nhà ở thuê mua. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển quỹ nhà ở xã hội, thể hiện qua các chính sách miễn tiền sử dụng đất, miễn giảm các khoản thuế, ưu đãi về lãi suất vay vốn và các chính sách tạo điều kiện về giá cho thuê, thuê mua được tính trên nguyên tắc bảo toàn vốn đầu tư xây dựng. Vốn đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây: (1) Tiền thu được từ việc bán, cho thuê và cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; (2) Trích từ 30% đến 50% tiền sử dụng đất của các dự án phát triển nhà ở trên địa bàn; (3) Ngân sách nhà nước đầu tư; (4) Tiền hỗ trợ, tiền đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; (5) Tiền huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Các tiêu chí đánh giá người thu nhập thấp Có nhiều tiêu chí đánh giá để xác định tình trạng thu nhập thấp. Một trong những tiêu chí đó là chuẩn nghèo. Tùy thuộc mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, chuẩn nghèo được xác định khác nhau. Chuẩn nghèo được đo bằng nhiều thước đo: thu nhập, chi tiêu, số kg lương thực, số calori…Trên thực tế, thu nhập và chi tiêu được sử dụng nhiều nhất.
Người ở ngưỡng nghèo là người có tổng thu nhập tương đương với tổng chi dùng tối thiểu để đảm bảo duy trì cuộc sống. Tại các nước đang phát triển, loại chi dùng đắt nhất trong các khoản là trả cho thuê nhà. Do đó, các nhà kinh tế đã đặc biệt chú ý đến thị trường bất động sản và giá thuê nhà vì ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng lên ngưỡng nghèo. Tại Việt nam ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Chuẩn nghèo được xác định một cách tương đối và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau.1 Những người nằm dưới 1 Đối với thành phố Hồ Chí Minh, mức chuẩn nghèo giai đoạn 2009 - 2015 được xác định ở mức thu nhập bình quân dưới 12 triệu đồng/người/năm ở các quận nội thành, quận mới và dưới 10 triệu đồng/người/năm ở các huyện ngoại thành. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 chuẩn nghèo dĩ nhiên là người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, đại bộ phận những người lao động ở nước ta, bao gồm cả những đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và những đối tượng làm việc trong các thành phần kinh tế thu nhập có thể không dưới chuẩn nghèo nhưng rất khó có điều kiện để tạo lập chỗ ở, nếu không có chính sách tạo điều kiện, hỗ trợ của Nhà nước và của cộng đồng. Những đối tượng thu nhập thấp được đề cập trong luận văn không chỉ là những người nghèo theo chuẩn nghèo mà còn bao gồm cả là những người tuy có thu nhập thường xuyên ổn định nhưng không đủ hay rất khó cho việc tạo lập nhà ở.
Mức thu nhập thấp được chia thành hai nhóm nhỏ: thu nhập rất thấp (làm đủ ăn và không có tích luỹ) và thu nhập tương đối thấp (đủ chi tiêu hàng ngày và có tích luỹ nhưng không nhiều). Mức độ khó khăn về nhà ở được đánh giá theo những tiêu chí là không có nhà ở, phải ở nhờ hoặc những nơi không phải là nhà ở (nhà kho, gầm cầu, mái hiên, chùa chiền.); nơi ở quá chật, dưới 6m2/người; ở nhà tạm, nhà dột nát, nhà kênh rạch.; ở bất tiện tại những nơi thiếu tiện nghi tối thiểu (điện, nước, vệ sinh.), nơi ông bà, cha, mẹ, con cái ở chung phòng; nhà bị giải toả theo quy hoạch xây dựng. Với những tiêu chí trên đây, TP.HCM hiện có rất nhiều đối tượng thu nhập thấp và thực sự có khó khăn về nhà ở như: các bộ, công chức, viên chức được hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước; công nhân, viên chức làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; các hộ diện giải phóng mặt bằng; công nhân lao động làm việc tại các KCN, KCX, khu công nghệ cao; các đối tượng chính sách (gia đình chính sách, người tàn tật, cô đơn. Mối quan hệ giữa chi tiêu cho nhà ở và thu nhập Công trình nghiên cứu của Malpezzi và Mayo (1985-1986) đã chỉ ra rằng khi thu nhập của hộ tăng lên thì tỷ suất tiền thuê nhà trong thu nhập giảm xuống.
Thực tế, tốc độ tăng chi phí thuê nhà chỉ đạt 40% đến 60% tốc độ tăng của thu nhập. Điều này cho thấy khi mức độ phát triển chung tăng lên thì chi tiêu cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 nhà ở cũng tăng lên theo thu nhập. Điều đó cho thấy phát triển kinh tế góp phần cải thiện nơi ăn chốn ở cho người dân. Nghiên cứu của Burns và Grebler (1977) chỉ ra rằng điều kiện nhà ở được cải thiện nhanh hơn thu nhập.
Đầu tư vào nhà ở làm tăng GNP nhanh hơn so với thu nhập chi cho nhà ở. Tại các nước có thu nhập thấp, chi cho nhà ở chiếm 2% GNP, và 5-10% thu nhập hộ gia đình. Ở các nước có thu nhập trung bình tỷ lệ này là 6-8% GNP và 25-30% thu nhập hộ gia đình.