Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về nhà ở xã hội - Khái niệm Theo Luật Nhà ở được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2014, theo đó: Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này. - Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội Những đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội gồm: + Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; + Hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn; + Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; + Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị; + Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp; + Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân; + Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; + Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này; 7 + Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập; + Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở. - Điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội Đối với người có công với cách mạng thì phải đáp ứng các điều kiện về nhà ở, cư trú, thu nhập theo quy định sau đây: + Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức tại nơi sinh sống, học tập hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người trong hộ gia đình thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu do Chính phủ quy định theo từng thời kỳ và từng khu vực; + Phải có đăng ký thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà ở xã hội; trường hợp không có đăng ký thường trú thì phải có đăng ký tạm trú từ một năm trở lên tại tỉnh, thành phố này, + Đối với đối tượng phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải thuộc diện nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với trường hợp hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn, hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu thì phải đáp ứng điều kiện theo quy định tại quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu về nhà ở tương ứng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với trường hợp hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi của Nhà nước thông qua Ngân hàng chính sách xã hội, tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định thì phải đáp ứng điều kiện về nhà ở, cư trú theo quy định sau đây: Có đất ở nhưng chưa có nhà ở 8 hoặc có nhà ở nhưng nhà ở bị hư hỏng, dột nát; Có đăng ký thường trú tại địa phương nơi có đất ở, nhà ở cần phải xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa.2 Tổng quan về hành vi mua - Cơ sở lý thuyết hành vi: Tâm lý học hành vi ra đời là một cuộc cách mạng, làm thay đổi cơ bản hệ thống quan niệm về tâm lý học đương thời. Theo đó, đối tượng của tâm lý học là hành vi chứ không phải ý thức. Phương pháp nghiên cứu là quan sát và thực nghiệm khách quan chứ không phải là nội quan.
Trước và trong thời kỳ xuất hiện Thuyết hành vi, tâm lý học được hiểu là khoa học về ý thức và phương pháp nghiên cứu là nội quan (tự quan sát và giải thích). Ngay từ khi ra đời ở Đức năm 1879, với tư cách là khoa học độc lập, tâm lý học đã được mệnh danh là Tâm lý học nội quan.Wundt - người sáng lập ra Tâm lý học này, đã xác định đối tượng của tâm lý học là tổ hợp các trạng thái mà ta nghiệm thấy - các trạng thái được trực tiếp thể nghiệm trong vòng ý thức khép kín. Sự phát triển tiếp theo của Tâm lý học nội quan đã hình thành nên Tâm lý học cấu trúc ở Mĩ. Mặt khác, do nhu cầu khắc phục sự bế tắc của Tâm lý học nội quan, cũng ở Mĩ những năm này đã xuất hiện Tâm lý học chức năng.
Tuy nhiên, trên thực tế, cả hai dòng phái đều không tạo lập được khoa học khách quan về ý thức. Lý luận của chúng gắn liền với phương pháp chủ quan, điều này gây sự thất vọng ở khắp mọi nơi. Kết quả là, những vấn đề cơ bản của tâm lý học trở nên mờ mịt đối với nhiều người: Đối tượng nghiên cứu (ý thức) và nguồn gốc của nó (ý thức bắt đầu từ đâu), phương pháp nghiên cứu (nội quan, nguyên tắc giải thích: nguyên nhân tâm lý như là sự chế uớc của một số hiện tượng ý thức đối với các hiện tượng khác). Từ đó đã xuất hiện nhu cầu cấp thiết về đối tượng, phương pháp và nguyên tắc mới, đặc biệt ở Mĩ, nơi mà cách tiếp cận thực dụng trong nghiên cứu con người chiếm vai trò thống trị.
Điều này đã được chứng minh bằng khuynh hướng chức năng, mà trọng tâm chú ý là vấn đề thích ứng của cá nhân với môi trường. Nhưng chủ nghĩa chức 9 năng, vốn bắt nguồn từ các quan niệm thời cổ đại về ý thức như là một bản thế đặc biệt vươn tới mục đích, đã bị bất lực khi giải thích nguyên nhân điều khiển hành vi con người, sự tạo ra những hình thức hành vi mới. => Nhân vật hàng đầu của Tâm lý học hành vi là J. Các luận điểm của ông là nền tảng lý luận của hệ thống tâm lý học này.
Nói tới Tâm lý học hành vi, không thể không nói nhiều về các quan điểm đó. Tuy nhiên, một mình J.Watson không làm nên trường phái thống trị tâm lý học Mĩ và ảnh hưởng lớn tới sự phát triển tâm lý học thế giới suốt thế kỷ XX.Watson có nhiều bậc tiền bối, mà tư tưởng và kết quả thực nghiệm của họ là cơ sở trực tiếp, để trên đó Watson xây dựng các luận điểm then chốt của Tâm lý học hành vi.Watson nhiều nhà tâm lý học lớn khác của Mĩ đã phát triển học thuyết này, đưa nó thành hệ thống tâm lý học đa dạng và bám rễ vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Vì vậy, có thể chia quá trình phát triển của Tâm lý học hành vi thành ba giai đoạn không hoàn toàn theo trật tự tuyến tính về thời gian: Những cơ sở lý luận; và Thực nghiệm đầu tiên hình thành các luận điểm cơ bản (Thuyết hành vi cổ điển); Sự phát triển tiếp theo của Tâm lý học hành vi, sau khi có các luận điểm của J. - Khái niệm hành vi mua: Hành vi của người mua là hành động của người đó tiến hành mua và sử dụng sản phẩm cũng như dịch vụ, bao gồm quá trình tâm lý và xã hội xảy ra trước và sau khi xảy ra hành động này.
(Kotler, 1999); Hành vi của người mua là tiến trình mà một cá nhân hay một nhóm lựa chọn, mua và chấp nhận sử dụng một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó nhằm thỏa mãn cho nhu cầu và mong muốn của họ. Các định nghĩa trên cho thấy hành vi người mua không chỉ liên quan đến hành động cụ thể xảy ra bởi từng cá nhân khi quyết định mua và sử dụng một sản phẩm/dịch vụ, mà còn chịu tác động bởi những nhân tố tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến hành động này. - Mô hình hành vi người mua: Điểm xuất phát để hiểu được người mua cần tham khảo mô hình tác nhân phản ứng thể hiện tại hình 2.1 10 Các kích thích tiếp thị: Các SPDV; Giá cả; Phân phối; Truyền thông Các kích thích khác: Nền kinh tế; Công nghệ; Chính trị; Văn hóa Quyết định mua hàng Đặc điểm người tiêu dùng: Động cơ; nhận thức; học hỏi; ký ức Tâm lý người tiêu dùng: Văn hóa; xã hội; cá nhân Hình 2.1: Mô hình chi tiết hành vi của người mua (Kotler, 2013) - Các nhân tố kích thích tiếp thị: Hệ thống các nhân tố kích tác tiếp thị là sự kết hợp bốn bộ phận cấu thành chủ yếu là: sản phẩm, giá cả, phân phối lưu thông, khuyến mãi (hỗ trợ). Các nhân tố này điều tác động một cách đồng bộ lên quyết định của khách hàng, nhằm mục tiêu thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.
- Sản phẩm: Là bất kỳ vật gì mà nhà cung cấp có thể cung cấp ra thị trường để được mọi người quan tâm, chú ý, quyết định mua để sử dụng, có thể làm thỏa mãn một nhu cầu hay một sự quyết định mua đó. Nó bao gồm vật phẩm hữu hình, dịch vụ, nơi chốn và ý tưởng. Một cách khác để làm tăng giá trị mà khách hàng cảm nhận là tính thẩm mỹ trong thiết kế sản phẩm thật độc đáo. Thiết kế chính bên trong căn nhà là một trong những vũ khí rất mạnh trong kho vũ khí tiếp thị của công ty.
Khi nền kinh tế phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu cuộc sống và sở hữu những tài sản có thiết kế độc đáo, sang trọng ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu.