Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề nhà ở cho người dân luôn là một trong những trụ cột an sinh xã hội cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam. Với quy mô dân số vượt mốc 90 triệu người, trong đó phần lớn là nhóm cư dân có thu nhập trung bình và thấp với mức thu nhập bình quân khoảng 44 triệu đồng/năm (tương đương 3,6 triệu đồng/tháng), nhu cầu sở hữu nơi an cư hợp pháp trở thành bài toán cấp bách. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng khiến mỗi năm có khoảng 1 triệu người di cư từ nông thôn ra các đô thị lớn, tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống hạ tầng và quỹ nhà ở.
Mặc dù chủ trương phát triển nhà ở xã hội đã được Đảng và Nhà nước định hình từ sớm và triển khai mạnh mẽ từ năm 2006, việc thực thi pháp luật về mua bán nhà ở xã hội vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn sâu sắc. Nguồn cung trên thị trường hoàn toàn mất cân đối khi các chủ đầu tư chủ yếu tập trung vào phân khúc nhà ở thương mại và chung cư cao cấp để tối ưu hóa lợi nhuận. Trong khi đó, các dự án nhà ở xã hội gặp nhiều trở ngại do thủ tục thẩm định phức tạp, cơ chế hỗ trợ tín dụng chưa thông suốt và mức lợi nhuận định mức chỉ từ 10% đến 15% chưa đủ hấp dẫn doanh nghiệp tham gia.
Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa các quy phạm pháp luật và đánh giá toàn diện thực tiễn thi hành pháp luật về mua bán nhà ở xã hội. Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào quan hệ giao dịch mua bán nhà ở xã hội theo khung khổ Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và khảo sát thực chứng tại các địa bàn trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Bình Dương. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi đề xuất mô hình cân bằng lợi ích giữa ba chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp đầu tư và người mua nhà, hướng tới mục tiêu an cư lạc nghiệp cho người lao động.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận của kinh tế học thể chế và khoa học pháp lý hiện đại, tích hợp ba trụ cột lý thuyết chính:
Thứ nhất, lý thuyết về quyền phúc lợi và an sinh xã hội, cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định tại Điều 22 Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi công dân đều có quyền có nơi ở hợp pháp. Nhà ở xã hội được xác định không thuần túy là hàng hóa thương mại mà là phương tiện bảo đảm tái sản xuất sức lao động và công bằng xã hội.
Thứ hai, lý thuyết điều tiết thị trường của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý thuyết này luận giải tính tất yếu của sự can thiệp từ cơ quan công quyền thông qua các công cụ ưu đãi thuế, miễn giảm tiền sử dụng đất và kiểm soát biên lợi nhuận để khắc phục các thất bại của thị trường bất động sản tự do.
Thứ ba, lý thuyết hợp đồng dân sự và tự do giao kết hợp đồng trên nguyên tắc bình đẳng pháp lý theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 11 Luật Thương mại năm 2005. Các bên tham gia giao dịch mua bán nhà ở xã hội thiết lập quyền và nghĩa vụ dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt khung pháp lý đặc thù do Nhà nước ban hành.
Khung khái niệm trung tâm bao gồm:
- Nhà ở xã hội: Được định nghĩa tại Khoản 7 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở.
- Mua bán nhà ở xã hội: Giao dịch chuyển giao quyền sở hữu nhà ở có điều kiện giữa chủ đầu tư hợp pháp và người mua thuộc danh mục thụ hưởng chính sách, được xác lập thông qua hợp đồng mẫu theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP và Thông tư số 20/2016/TT-BXD.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ các báo cáo chính thức của Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Cục Quản lý Nhà và Thị trường bất động sản cùng hệ thống số liệu thống kê tại các Sở Xây dựng địa phương trong giai đoạn 2011 đến 2019.
Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài thực hiện phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 12 dự án khu đô thị và nhà ở trọng điểm tại thành phố Hà Nội kết hợp với dữ liệu tổng hợp từ 192 dự án nhà ở xã hội đang triển khai trên phạm vi toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu này bảo đảm tính đại diện cao cho các vùng kinh tế động lực và các đô thị loại đặc biệt, nơi có mật độ tập trung công nhân và người thu nhập thấp cao nhất cả nước.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích luật học so sánh và thống kê mô tả. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm đối chiếu một cách khách quan giữa chuẩn mực pháp lý trên văn bản với thực tiễn thực thi, từ đó nhận diện chính xác các khoảng trống chính sách và mâu thuẫn quyền lợi giữa các bên tham gia giao dịch. Timeline nghiên cứu bao quát quá trình phát triển chính sách từ khi ban hành Luật Nhà ở năm 2005 đến việc thực thi chuyên sâu Luật Nhà ở năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về mua bán nhà ở xã hội tại các địa phương đã ghi nhận bốn phát hiện cốt lõi sau:
Thứ nhất, độ lệch cung - cầu trên thị trường nhà ở xã hội vẫn ở mức rất lớn. Tính đến giai đoạn khảo sát, toàn quốc mới hoàn thành 98 dự án nhà ở xã hội với quy mô khoảng 36.380 căn hộ (gồm 35 dự án cho người thu nhập thấp với 18.950 căn và 63 dự án cho công nhân với 17.430 căn). Con số này chỉ đáp ứng chưa đầy 15% so với tổng nhu cầu dự báo lên tới 432.000 căn hộ dành cho người thu nhập thấp (tương đương 11,28 triệu m2 sàn) và 470.000 căn hộ cho công nhân khu công nghiệp (tương đương 14,11 triệu m2 sàn). Tại khu vực đô thị, vẫn còn hơn 325.000 hộ gia đình phải sinh sống trong không gian chật hẹp dưới 5m2/người, trong khi tỷ lệ công nhân có chỗ ở ổn định chỉ đạt 20%.
Thứ hai, mức giá bán nhà ở xã hội chưa tương xứng với khả năng chi trả của người thụ hưởng. Tại thị trường Hà Nội, giá bán nhà ở xã hội dao động ở mức cao từ 14,9 triệu đồng/m2 (dự án 30 Phạm Văn Đồng) đến 16 triệu đồng/m2 (dự án 143 Trần Phú, Hà Đông). Đáng chú ý, người mua thực tế phải trả thêm tiền chênh ngoài hợp đồng từ 50 đến 70 triệu đồng/căn đối với các vị trí thuận lợi. Nghịch lý xuất hiện khi giá nhà ở xã hội gần như tương đương với phân khúc nhà ở thương mại giá thấp (như dự án chung cư Viện 103 Văn Quán với giá từ 13,9 đến 14,5 triệu đồng/m2), trong khi người mua nhà ở xã hội phải trải qua quy trình thẩm định hồ sơ ngặt nghèo và bị hạn chế quyền định đoạt tài sản trong 5 năm.
Thứ ba, sự thiếu nghiêm túc trong việc thực thi quy định dành 20% quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội. Kết quả kiểm tra tại 12 dự án nhà ở thương mại và khu đô thị trên địa bàn Hà Nội cho thấy có 1 dự án hoàn toàn không bố trí quỹ đất, 8 dự án xin chuyển đổi mục đích sang nhà ở thương mại hoặc đấu giá. Trong tổng số 11 lô đất được quy hoạch với diện tích 8,6 ha, có tới 7 lô với diện tích 3 ha (chiếm khoảng 35% tổng diện tích) vẫn chưa được giải phóng mặt bằng do các chủ đầu tư chậm trễ triển khai phần đất có hiệu quả sinh lời thấp.
Thứ tư, tiến độ giải ngân các gói tín dụng hỗ trợ còn chậm chạp. Điển hình đối với gói tín dụng ưu đãi 30.000 tỷ đồng triển khai từ năm 2013, tính đến tháng 3/2014, hệ thống ngân hàng mới chỉ cam kết cho 3.048 khách hàng vay với số tiền 2.909 tỷ đồng và thực tế giải ngân đạt 1.322 tỷ đồng cho 3.023 khách hàng, đạt tỷ lệ khiêm tốn khoảng 4,4% tổng quy mô gói hỗ trợ.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên phản ánh rõ sự mâu thuẫn giữa mục tiêu an sinh xã hội mang tính nhân văn và cơ chế vận hành theo nguyên tắc thị trường. Nguyên nhân chính khiến các chủ đầu tư chậm tiến độ hoặc né tránh xây dựng nhà ở xã hội bắt nguồn từ mức trần lợi nhuận định mức 10% đến 15% tổng chi phí đầu tư theo Nghị định số 188/2013/NĐ-CP là chưa đủ bù đắp chi phí cơ hội và rủi ro trượt giá vật liệu xây dựng.
So sánh với các công trình nghiên cứu giai đoạn áp dụng Luật Nhà ở năm 2005 của các chuyên gia đầu ngành, nghiên cứu này chỉ ra rằng Luật Nhà ở năm 2014 đã có bước tiến lớn khi mở rộng đối tượng chủ đầu tư sang các hộ gia đình, cá nhân và đa dạng hóa hình thức huy động vốn. Tuy nhiên, quy trình hành chính xác định điều kiện thu nhập của người mua còn thiếu tiêu chí định lượng chuẩn xác, dẫn đến tình trạng trục lợi chính sách hoặc gây khó khăn cho người nghèo thực sự.
Về mặt biểu diễn dữ liệu thực chứng, các chỉ số nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua hai công cụ:
- Biểu đồ hình cột chồng thể hiện độ chênh lệch giữa nguồn cung thực tế (36.380 căn) so với tổng nhu cầu thực tế đến năm 2020 (hơn 900.000 căn cho cả hai nhóm công nhân và người thu nhập thấp).
- Bảng ma trận so sánh chi phí cấu thành giá giữa nhà ở xã hội và nhà ở thương mại bình dân tại các quận nội thành Hà Nội, làm rõ các khoản thuế ưu đãi, tiền sử dụng đất và chi phí chênh lệch thực tế trên thị trường giao dịch.
Đề xuất và khuyến nghị
Để tháo gỡ các vướng mắc pháp lý và thúc đẩy thị trường mua bán nhà ở xã hội vận hành minh bạch, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện chế tài pháp lý về việc quản lý và phát triển quỹ đất 20% bắt buộc. Bộ Xây dựng cần phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ sung quy định xử phạt nghiêm khắc hoặc kiên quyết thu hồi giấy phép đối với các dự án thương mại không hoàn thành giải phóng mặt bằng và bàn giao quỹ đất 20% cho nhà ở xã hội. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ bàn giao đất sạch đạt trên 85% tại các đô thị loại 1 và loại đặc biệt trong giai đoạn 2021 - 2023.
Thứ hai, điều chỉnh cơ chế tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư. Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng cần kiến nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định hướng dẫn Luật Nhà ở theo hướng nâng mức trần lợi nhuận định mức cho chủ đầu tư từ 10% - 15% lên mức 15% - 18%, đồng thời ban hành quy chế thẩm định giá bán linh hoạt theo biến động chỉ số giá xây dựng. Lộ trình thực hiện trong vòng 12 tháng, kỳ vọng gia tăng ít nhất 30% số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký đầu tư dự án mới.
Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính và số hóa quy trình xét duyệt hồ sơ mua nhà. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Xây dựng cần thiết lập hệ thống dịch vụ công một cửa liên thông để xác minh tình trạng cư trú và điều kiện thu nhập, loại bỏ các thủ tục xác nhận rườm rà tại cấp xã/phường. Cắt giảm thời gian thẩm định và công bố danh sách từ 30 ngày làm việc xuống dưới 15 ngày làm việc, giảm 50% thời gian xử lý thủ tục cho người dân từ quý II/2021.
Thứ tư, tái cơ cấu nguồn vốn tín dụng ưu đãi dài hạn. Ngân hàng Nhà nước cùng Ngân hàng Chính sách xã hội cần thiết lập quỹ hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội hoạt động độc lập, duy trì các gói vay dài hạn từ 15 đến 25 năm với mức lãi suất ổn định từ 4,8% đến 5%/năm. Timeline triển khai đồng bộ giai đoạn 2021 - 2025, phấn đấu đạt tỷ lệ giải ngân trên 90% kế hoạch vốn được phê duyệt hằng năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu cung cấp giá trị tham khảo sâu sắc và các trường hợp ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng:
Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp (Bộ Xây dựng, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố). Luận văn là nguồn tài liệu thực chứng quan trọng phục vụ công tác rà soát, đánh giá tác động chính sách và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, đặc biệt là các nghị định sửa đổi về quản lý nhà ở xã hội.
Thứ hai, các chủ đầu tư, doanh nghiệp phát triển bất động sản và tổ chức tín dụng. Đề tài cung cấp hướng dẫn pháp lý toàn diện từ khâu lập hồ sơ dự án, công bố thông tin, quản lý hợp đồng mua bán mẫu theo Thông tư số 20/2016/TT-BXD cho đến quy trình thu hồi vốn an toàn, hạn chế tối đa tranh chấp thương mại phát sinh.
Thứ ba, người dân có thu nhập thấp, cán bộ công chức và công nhân khu công nghiệp. Luận văn đóng vai trò như một cẩm nang pháp lý rõ ràng, giúp người mua nắm vững các tiêu chuẩn hưởng chính sách, trình tự 7 bước nộp hồ sơ, phương thức thanh toán qua ngân hàng và các quyền lợi hợp pháp khi nhận bàn giao nhà.
Thứ tư, giới nghiên cứu học thuật, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Đất đai và Quản lý Bất động sản. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu hệ thống hóa với hơn 10 văn bản pháp quy chủ chốt và số liệu thực tế tại các đô thị lớn, là tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về thị trường bất động sản.
Câu hỏi thường gặp
1. Những đối tượng nào được pháp luật cho phép đăng ký mua nhà ở xã hội? Theo quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014, có 10 nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, tiêu biểu gồm người có công với cách mạng, người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị, người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp, cùng cán bộ, công chức, viên chức chưa có nhà ở thuộc sở hữu riêng hoặc diện tích bình quân dưới mức chuẩn quy định.
2. Người mua nhà ở xã hội có được phép bán lại nhà ngay sau khi nhận bàn giao không? Pháp luật quy định người mua nhà ở xã hội không được phép chuyển nhượng nhà ở dưới mọi hình thức trong thời hạn tối thiểu là 5 năm kể từ thời điểm thanh toán hết tiền mua nhà theo hợp đồng. Trường hợp trong thời hạn 5 năm có nhu cầu bán lại thì chỉ được bán cho Nhà nước, chủ đầu tư hoặc bán cho đối tượng khác thuộc diện được mua nhà ở xã hội với giá không vượt quá mức giá quy định.
3. Chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội được hưởng những chính sách ưu đãi tài chính nào? Theo Luật Nhà ở năm 2014 và Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, chủ đầu tư được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng nhà ở xã hội; được miễn, giảm thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn ưu đãi từ các tổ chức tín dụng và được dành 20% tổng diện tích sàn nhà ở để kinh doanh thương mại nhằm bù đắp chi phí.
4. Thủ tục công khai thông tin dự án nhà ở xã hội được thực hiện như thế nào? Chủ đầu tư có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về tên dự án, quy mô, số lượng căn hộ, giá bán tạm tính và thời hạn nhận đơn để công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng địa phương trong thời gian tối thiểu là 30 ngày làm việc trước khi bắt đầu tiếp nhận hồ sơ đăng ký từ người dân.
5. Lợi nhuận định mức của chủ đầu tư khi bán nhà ở xã hội được pháp luật quy định ra sao? Pháp luật hiện hành quy định giá bán nhà ở xã hội do chủ đầu tư xác định trên cơ sở tính đủ các chi phí thu hồi vốn đầu tư xây dựng, lãi vay (nếu có) và lợi nhuận định mức không vượt quá 10% đến 15% tổng chi phí đầu tư xây dựng đối với phần diện tích nhà ở xã hội, bảo đảm tính nhân văn và hỗ trợ tối đa cho người mua.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện các cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý điều chỉnh hoạt động mua bán nhà ở xã hội trong thị trường bất động sản Việt Nam.
- Nghiên cứu chỉ rõ khoảng cách cung - cầu lớn khi cả nước mới hoàn thành 98 dự án (khoảng 36.380 căn hộ), chưa đáp ứng đủ mục tiêu phục vụ 432.000 hộ gia đình thu nhập thấp đến năm 2020.
- Nhận diện chính xác 4 rào cản thực tiễn gồm giá bán cao từ 14,9 đến 16 triệu đồng/m2, vi phạm quản lý quỹ đất 20%, tiến độ giải ngân tín dụng chậm và thủ tục hành chính phức tạp.
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi với mục tiêu nâng tỷ lệ bàn giao đất sạch trên 85% và điều chỉnh lợi nhuận định mức cho doanh nghiệp lên 15% - 18%.
- Khẳng định phát triển nhà ở xã hội là giải pháp then chốt để ổn định thị trường bất động sản và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hơn 90 triệu dân.
Luận văn đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho lộ trình sửa đổi luật pháp giai đoạn 2021 - 2030. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ để sớm đưa các giải pháp này vào thực tiễn, tạo bước đột phá thực sự cho an sinh xã hội nước nhà.