phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Đô thị và Môi trƣờng Đắk Lắk trong giai đoạn 2012-2016. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Đô thị và Môi trƣờng Đắk Lắk. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau về đề tài phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Điều này chứng tỏ vấn đề phát triển nguồn nhân lực đang đƣợc quan tâm và chú trọng. Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực đƣợc thực hiện ở rất nhiều góc độ tiếp cận, ngành nghề và lĩnh vực khác nhau nhƣ: - Nguyễn Thị Anh Đào, “Vấn đề quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí công nghiệp, tháng 5/2011. Bài viết đề cập đến những thực trạng trong quản trị nguồn nhân lực phổ biến ở các doanh nghiệp Việt Nam và đƣa ra một số ý kiến đánh giá từ đó đề ra giải pháp để nâng cao chất lƣợng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Phạm Thị Thu Hằng, “Doanh nghiệp Việt Nam 2007, Lao động và phát triển nguồn nhân lực” (2008).
Đây là báo cáo thƣờng niên về Doanh nghiệp Việt Nam của Phòng Thƣơng mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI). Luan van 5 Tác phẩm đánh giá tổng quan về môi trƣờng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phân tích thực trạng lao động và phát triển nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp đồng thời đƣa ra các giải pháp chiến lƣợc đối với phát triển nguồn nhân lực và hoạch định chính sách. - Lê Thị Mỹ Linh, Luận văn “Phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, năm 2010. Luận văn phân tích các vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm mục đích tìm giải pháp để phát triển cả số lƣợng và chất lƣợng lao động làm việc trong các doanh nghiệp đó.
- Vũ Thị Ngọc Mai, Luận văn “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Nam Hà Nam”, năm 2015. Đề tài đề cập đến thực trạng nguồn nhân lực của công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Nam Hà Nam và một số giải pháp kiến nghị. - Đinh Văn Toàn, “Phát triển nguồn nhân lực của EVN đến năm 2015: cần giải pháp đồng bộ”, Tạp chí điện lực, tháng 9/2009. Bài viết đề cập đến những khó khăn thách thức trong giai đoạn phát triển mới của ngành điện lực và đƣa ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực quản lý.
- Phan Ngọc Trung, “Quản lý nguồn nhân lực: vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Phát triển nguồn nhân lực, số 1(22)-2011. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, các hoạt động quản lý nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam còn non yếu, chƣa khai thác và phát huy thế mạnh của nguồn lực mà doanh nghiệp quản lý. Từ những phân tích các điểm hạn chế của quản lý nhân lực, bài viết đã đƣa ra một số đề xuất để nâng cao hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp Việt Nam. - "Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Lilama 7”, luận án tiến sỹ Thái Thảo Ngọc, trƣờng Đại học kinh tế quốc dân, 2013.
Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau về nhân lực.
Theo nghĩa chung nhất, nhân lực là nguồn lực trong mỗi con ngƣời, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nhân lực bao gồm thể lực và trí lực, nó thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc và hiệu quả công việc mà con ngƣời thực hiện đƣợc. Theo đó, nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia nói chung, đối với từng doanh nghiệp nói riêng. Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Đặc biệt, đối với mỗi doanh nghiệp thì nhân lực có ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh; nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh và quyết định sự phát triển của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực Khi nghiên cứu về phát triển các nguồn lực, nguồn nhân lực là khái niệm đƣợc nhiều tổ chức và cá nhân bàn tới. Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã đƣa ra nhiều quan niệm. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” Luan van 7 Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động[1] Ở nƣớc ta, vấn đề nguồn nhân lực chỉ đƣợc đặc biệt quan tâm nghiên cứu từ khi đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ đổi mới (từ sau năm 1986). Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nguyễn Tiệp - Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và nó khác với các nguồn nhân lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội”.VS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Qua các công trình nghiên cứu về các nguồn lực, các nhà khoa học nƣớc ta đều tán thành quan điểm: Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời (bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…), là những ngƣời lao động đƣợc chuẩn bị kỹ năng (hay khả năng nói chung) để tham gia một công việc lao động nào đó nhằm tạo ra của cải vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội.
“Nguồn nhân 1 Nguyễn Sinh Cúc - http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/tu-dien-mo/item/788-nguon-nhan-luc-va-phat- trien-nguon-nhan-luc.html Luan van 8 lực” còn đƣợc hiểu là “Nguồn lực con ngƣời”. Trong quá trình nghiên cứu, tôi thống nhất quan điểm này. Nhƣ vậy, nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo 2 nghĩa: Ngoài nghĩa rộng đƣợc hiểu nhƣ khái niệm “Nguồn lực con ngƣời”, thƣờng đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động - những ngƣời trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (tổng số ngƣời đang có việc làm, số ngƣời thất nghiệp, số ngƣời dự phòng) và ngoài độ tuổi lao động nhƣng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Nguồn nhân lực bao gồm 2 bộ phận: Số lƣợng nguồn nhân lực (nguồn lực lao động) và chất lƣợng nguồn nhân lực (tiềm năng phát triển).
Số lƣợng nguồn nhân lực sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ chất lƣợng giáo dục đào tạo, thể chất ngƣời lao động và nhu cầu sử dụng lao động ở ngành nghề nhất định… Nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhƣ: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, thị trƣờng… Ngày nay, thế giới đang bƣớc vào giai đoạn kinh tế tri thức, tỷ trọng chất xám trong mỗi sản phẩm làm ra thể hiện khả năng cạnh tranh của ngành nghề của mỗi doanh nghiệp và của từng quốc gia. Vì vậy, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia và là yếu tố đầu tiên, quyết định đến sự phát triển nhanh và bền vững của từng doanh nghiệp nói riêng và của quốc gia nói chung. Đặc biệt, đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta, giải quyết vấn đề này đã và đang là yêu cầu đƣợc đặt ra hết sức bức xúc, vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lƣợc xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nƣớc. Phát triển nguồn nhân lực Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”.
Theo sách “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á” của Viện Kinh tế thế giới xuất bản năm 2003: “Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất”. [21, tr 16-17] Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các cách thức, biện pháp làm gia tăng giá trị của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất nƣớc và xã hội.