Mở đầu - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần tƣ vấn Thiết kế giao thông Bình Định. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực Công ty Cổ phần tƣ vấn Thiết kế giao thông Bình Định.
- Tài liệu tham khảo. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ở bất kỳ thời điểm nào của lịch sử phát triển, nguồn lực con ngƣời luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất và là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc vì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh của đất nƣớc. Điều đó càng thể hiện rõ nét hơn trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay khi nền kinh tế nào dựa nhiều vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, duy trì đƣợc tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Các lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế gần đây cũng chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trƣởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con ngƣời, nguồn nhân lực.
Luan van 5 Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc coi là một “tài nguyên” đặc biệt, một nguồn lực quan trọng của sự phát triển. Chính vì lẽ đó, việc phát triển con ngƣời, phát triển nguồn nhân lực đang chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Cho đến nay, khái niệm nguồn lực con ngƣời (hay nguồn nhân lực) đang đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc cho rằng nguồn nhân lực bao hàm những ngƣời đang làm việc và những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Theo Beng, Fischer và Dornhusch khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tòan bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời tích lũy đƣợc trong quá trình nhận thức xã hội và tiếp xúc với thực tiễn. Một số nhà khoa học của Việt Nam thì cho rằng nguồn nhân lực “đƣợc hiểu là số dân và chất lƣợng con ngƣời bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của ngƣời lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng nào đó” [5]. Khi bàn về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau do nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc cho rằng phát triển nguồn nhân lực bao hàm cả giáo dục, đào tạo và việc sử dụng các năng lực tiềm tàng của con ngƣời nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Một số ngƣời khác cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng giá trị con ngƣời, cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng nhƣ kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con ngƣời trở thành ngƣời lao động Luan van 6 có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của phát triển kinh tế-xã hội. Quan điểm xem “con ngƣời là nguồn vốn - vốn nhân lực” cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tƣ nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lƣợng và chất lƣợng đáp ứng nhu cầu phát triển kịnh tế - xã hội của đất nƣớc, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân” (Bùi Thị Thanh, 2005). Quan điểm của GS.
VS Nguyễn Minh Đƣờng: “Phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu là gia tăng giá trị cho con ngƣời trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn. để họ có thể tham gia vào lực lƣợng lao động, làm giàu cho đất nƣớc, góp phần cải tạo xã hội, cũng nhƣ phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải đƣợc tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trƣờng xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển " (Trần Khánh Đức, 2002). Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhân lực Nhân lực là sức lực nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. [2] Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách.[11] Nhân lực, theo nghĩa gốc là sức ngƣời.
Sức ngƣời bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần.[1] Sức ngƣời đƣợc đem sử dụng trong quá trình lao động sản xuất đƣợc xem xét ở cả hai mặt tài và đức. Sức lực con ngƣời là một khả năng gần nhƣ vô hạn nếu đƣợc đƣợc đầu tƣ khai thác một cách hợp lý. Nhân lực hoàn thiện kết hợp với khoa học công nghệ là cơ sở để tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội. Nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong doanh nghiệp.[8] Nhân lực trong một tổ chức là sự kết hợp của tất cả các cá nhân riêng lẻ để cùng thực hiện một mục tiêu chung. Nguồn nhân lực Đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về nguồn nhân lực, trong đó có những cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực thể hiện dƣới nhiều giác độ: Nguồn nhân lực là nguồn lực của con ngƣời, nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra Luan van 8 nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực là tổng thể nguồn lực từng cá nhân con ngƣời. Với tƣ cách là nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định.[2] Với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động cho xã hội. Với tƣ cách là khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.[13] Cũng có quan điểm xem nguồn nhân lực nhƣ là một nguồn vốn, thông qua hàng loạt những nghiên cứu tập trung về vai trò của con ngƣời trong quá trình phát triển và kết quả của những nghiên cứu ấy chỉ ra rằng, Nguồn vốn nhân lực là tập hợp những khả năng từ giáo dục, hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm, sức khoẻ, khả năng thúc đẩy… mà làm cho mọi ngƣời có khả năng tham gia, đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng họ sinh sống. Hơn thế nữa, nguồn vốn nhân lực còn có thể giúp mọi ngƣời tạo ra nghề nghiệp và đặc biệt là lựa chọn cuộc sống của họ.
Nhƣ vậy, Nguồn vốn Nhân lực là khả năng tạo dựng sự vƣợt trội trong mọi ngƣời và khả năng tạo dựng những giá trị. Nhà kinh thế học Adam Smith đã là ngƣời đầu tiên đƣa ra vai trò của nguồn vốn này. Theo ông, có bốn loại nguồn vốn: 1) Dụng cụ và máy móc hữu ích cho thƣơng mại; 2) Nhà máy, xí nghiệp, công xƣởng phục vụ cho quá trình sản xuất; 3) Đất đai, nhà xƣởng; 4) Nguồn vốn nhân lực. Từ ý tƣởng của nhà kinh tế học này, cũng đã có rất nhiều những nhà khoa học, và những nhà kinh tế hƣởng ứng.
Theo hai tác giả Jeremy Hope và Tony Hope, thì các ông chia ra ba loại nguồn vốn: 1) Nguồn vốn nhân lực. Bao gồm kinh Luan van 9 nghiệm, những kỹ năng và khả năng của con ngƣời. 2) Nguồn vốn nội lực (nguốn vốn cấu trúc). Nguồn vốn này bao gồm nhãn hiệu hàng hoá, bản quyền, trong đó có bản quyền trí tuệ, cấu trúc hệ thống thông tin.
3) Nguồn vốn ngoại lực tập trung vào vấn đề thị trƣờng. Nguồn vốn này đề cập đến lợi ích cho khách hàng và những điểm mạnh về thƣơng hiệu.(5) Nhƣ vậy với hai tác giả này, nguồn vốn này đƣợc đề cập phần lớn sinh ra từ nguồn vốn trí tuệ. Những nhà khoa học và kinh tế khác là Skaplan và David P.Norton cũng cho rằng, nguồn vốn nhân lực là khả năng làm thế nào để thực hiện công việc chuyên môn hoàn thiện. [7] Tuy có những quan điểm khác nhau tuỳ theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhƣng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào qúa trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai.
Hay nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời gồm: Thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế- xã hội. Với quan niệm trên, nguồn nhân lực bao gồm 3 yếu tố cơ bản: Số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu. - Số lƣợng nhân lực: Thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm. Sự phát triển về số lƣợng nguồn nhân lực dựa trên yếu tố nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lƣợng lao động.
- Chất lƣợng nhân lực: là tổng hợp của nhiều yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, đƣợc biểu hiện thông qua các tiêu thức: sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, v. của ngƣời lao động. Trong đó yếu tố trí lực, đạo đức và thể lực là quan trọng nhất trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực. Chất lƣợng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực quyết định.