phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết: Chƣơng 1: Lý luận chung về nguồn lực con người và vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nam Định Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản phát triển nguồn lực con người ở tỉnh Nam Định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN LỰC CON NGƢỜI VÀ VAI TRÕ CỦA NGUỒN LỰC CON NGƢỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Khái niệm và đặc điểm của nguồn lực con ngƣời 1.1 Khái niệm về nguồn lực con người Khái niệm “nguồn lực con người” hay còn gọi là “nguồn nhân lực” được hình thành trong quá trình nghiên cứu và xem xét nhân tố con người trên phương diện là động lực cơ bản để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, việc sử dụng và phát huy nguồn lực con người đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Những thành tựu to lớn mà loài người đã và đang đạt được trong quá trình phát triển chính là do con người biết phát huy một cách tổng hợp các nguồn lực, mà trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn lực con người được đánh giá là quan trọng nhất, là nguồn lực trung tâm của mọi nguồn lực. Vì vậy, vấn đề phát huy nhân tố con người, sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động để phát triển mạnh mẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang trở thành vấn đề nóng bỏng và bức bách của các ngành, các cấp và của toàn xã hội. Trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi xem xét vấn đề nguồn lực con người, theo Liên hợp quốc nguồn lực con người là tất cả những kỹ năng, kiến thức và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước.
Ngân hàng thế giới coi: nguồn lực con người là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp, v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, nguồn lực con người được xét dưới góc độ chất lượng của con người và vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Mỗi khi sử dụng nguồn lực đó nó không chỉ góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển mà thông qua đó nó còn giúp cho con người ngày càng được hoàn thiện và được khẳng định mình đối với xã hội, đối với đất nước. Ở nước ta, khái niệm nguồn lực con người trước đây chưa được đưa vào sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ khoa học.
Nó chỉ được sử dụng rộng rãi bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ XX, trong đó các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực con người, về nguồn nhân lực. Trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng như các Từ điển Tiếng Việt chưa xuất hiện định nghĩa về “ Nguồn lực con người”. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét một số khái niệm dưới đây về nguồn lực con người do một số nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra. Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải cho rằng: “Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” “Tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học - công nghiệp và các cơ quan Chính phủ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”[29, tr.1-2] Trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu nhất.
Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại” [20, tr.] Đưa ra quan niệm về nguồn lực con người Giáo sư Viện sĩ TS. Phạm Minh Hạc cho rằng: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Nguồn lực con người là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [25, tr.328] Khi nghiên cứu về vấn đề trên Giáo sư TS. Hoàng Chí Bảo cũng cho rằng: “ Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người” [1, tr. Từ một số quan niệm và cách tiếp cận nêu trên có thể hiểu một cách khái quát về nguồn lực con người như sau: Nguồn lực con người là khái niệm dùng để chỉ số dân, cơ cấu dân số, chất lượng con người với tổng thể phẩm chất, năng lực và tiềm năng tạo nên sức mạnh để thúc đẩy kinh tế - xã hội của một quốc gia phát triển.
Thuật ngữ “nguồn lực con người” được hiểu khá rộng. Cùng với thuật ngữ này còn có một số thuật ngữ tương đồng khác cũng được sử dụng tương đối phổ biến như: “nguồn nhân lực” hoặc “tài nguyên con người”. Những thuật ngữ trên xuất phát điểm từ thuật ngữ tiếng Anh: Human Resources và được dịch ra với từ ngữ khác nhau, song giống nhau về bản chất. Trên thực tế, khái niệm “nguồn nhân lực” ngoài nghĩa rộng được hiểu như là “nguồn lực con người”, bản thân nó còn được hiểu với nghĩa hẹp là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện tại và tiềm năng) hoặc lực lượng lao động.
Còn khái niệm “tài nguyên con người” với ý nghĩa nhấn mạnh mặt khách thể của con người, coi con người như một nguồn tài nguyên, loại của cải giá trị, cần tận dụng khai thác một cách có hiệu quả và triệt để không chỉ trên phương diện sức khỏe mà quan trọng hơn là về tiềm năng trí tuệ của con người. * Cấu trúc của nguồn lực con người: Cấu trúc của nguồn lực con người là quá trình xem xét từng bộ phận cấu thành nguồn lực con người theo một chỉnh thể, từ đó phát hiện ra cơ cấu và mối quan hệ giữa chúng tạo thành hệ thống, cấu trúc của nguồn lực con 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người. Nói đến nguồn lực con người cần phải đề cập đến số lượng và chất lượng con người, đó là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực, đạo đức và những năng lực, phẩm chất khác của con người như ý chí, tình cảm. Mỗi yếu tố có vị trí và vai trò nhất định trong cấu trúc nguồn lực con người, song chúng lại có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo nên sự phát triển toàn diện của nguồn lực con người.
Nghĩa là nguồn lực con người chỉ được phát triển đầy đủ dựa trên một quy mô hợp lý cả về số lượng và chất lượng của nguồn lực: Về mặt số lượng của nguồn lực con người. Đó chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp sức lao động cho xã hội. Các chỉ số về nguồn lực con người của một quốc gia, một địa phương được xác định trên quy mô dân số, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân số, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu lao động trong các ngành, các khu vực kinh tế, các lĩnh vực kinh tế, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa các vùng, miền của đất nước.Trong đó, số dân trong độ tuổi lao động là chỉ số phản ánh đầy đủ nhất về số lượng của nguồn lực con người. Số lượng nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng không kém so với chất lượng nguồn lực con người.
Nếu số lượng thiếu hoặc không đủ sẽ làm hạn chế đến sự phân công lao động xã hội trong các ngành, các lĩnh vực, ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn lực con người và do đó gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Về mặt chất lượng, đây là yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người của một quốc gia, một địa phương. Trước đây, với nền nông nghiệp lạc hậu, chúng ta thường nhấn mạnh hơn đến số lượng của nguồn lực con người: nguồn lực dồi dào, người lao động cần cù, thông minh và sáng tạo là có thể đem lại cho con người của cải vật chất. Đó cũng là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới lại cho thấy rằng sự dồi dào của nguồn lao động và sự cần cù, chịu khó chưa đủ để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế - 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vì vậy, khi nói đến nguồn lực con người chúng ta cần xem xét trong chỉnh thể cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Và xem chất lượng nguồn lực con người mới chính là khâu đột phá, giữ vai trò chính yếu nhất trong phát triển. Khái niệm chất lượng nguồn lực con người là tổng hợp các yếu tố về thể lực, trí lực, trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, năng lực, phẩm chất, tâm lý, đạo đức.
của người lao động. Những yếu tố kể trên đều rất quan trọng. Gắn liền với nguồn lực con người thì phẩm chất đạo đức và nguồn lực trí tuệ của con người được coi trọng nhất trong điều kiện hiện nay, vì nó “bao gồm những tiềm năng, năng lực và tập hợp các giá trị sáng tạo về tinh thần của mỗi cá nhân, của các tập thể, của các cộng đồng người. trong một xã hội nhất định” và “có khả năng tạo ra quá trình phát triển tự nhiên, xã hội và bản thân con người” [30, tr.
Trước sức mạnh của thời đại công nghệ số, buộc người lao động phải tìm mọi cách để học tập, tiếp thu tri thức mới để vận dụng vào quá trình sản xuất và phải thường xuyên tự bổ xung, bồi dưỡng những tri thức để không bị lạc hậu trước sự phát triển của thời đại. Trước yêu cầu của thời đại đặt ra và cũng là yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi con người phải có sự phát triển cao về mặt trí tuệ, học vấn và kỹ năng nghề nghiệp để trở thành chủ nhân của xã hội hiện đại.